Luật cư trú trong Quân đội nhân dân Việt Nam

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT CƯ TRÚ VÀ QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT CƯ TRÚ

  1. Sự cần thiết ban hành Luật Cư trú:

Tự do cư trú là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật nước ta. Quyền tự do cư trú của công dân được quy định lần đầu tiên tại Điều 10 Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946. Quyền cơ bản đó vẫn tiếp tục được khẳng định tại điều 28 Hiến pháp năm 1959, Điều 71 Hiến pháp năm 1980, Điều 68 Hiến pháp năm 1992, Điều 23 Hiến pháp năm 2013, trong bộ luật Dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Để đảm bảo cho quyền tự do cư trú của công dân được thực hiện trên thực tế và đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý cư trú, trong từng thời kỳ, Chính phủ đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị định số 104/CP ngày 27/6/1964 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩu đối với công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nghị định số 32/CP ngày 29/2/1968 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất công tác đăng ký hộ tịch, hộ khẩu và thống kê dân số, Nghị định số 04/HĐBT ngày 7/8//1988 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩu, Nghị định số 51/CP ngày 10/5/1997 về đăng ký và quản lý hộ khẩu. Nghị định số 108/2005/NĐ-CP ngày 19/8/2005 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 51/CP ngày 10/5/1997 và Bộ Công an đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành. Các văn bản quy phạm pháp luật này đã tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền tự do cư trú, lựa chọn nơi cư trú, đồng thời đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quản lý cư trú, cũng như phục vụ các yêu cầu có liên quan của Nhà nước cà của nhân dân trong từng giai đoạn cách mạng.

Tuy nhiên, trước khi Luật Cư trú được ban hành, các quy định về cư trú còn tản mạn, chủ yếu được ban hành dưới hình thức Nghị định của Chính phủ và Thông tư của Bộ Công an. Trước sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nhất là yêu cầu hội nhập, mở rộng  giao lưu và hợp tác quốc tế, nhiều quy định của pháp luật hiện hành về cư trú và quản lý cư trú không còn phù hợp, mang nặng cơ chế xin cho, trình tự, thủ tục rườm rà, phức tạp, chưa thật sự dân chủ, thống nhất, dẫn đến tình trạng vận dụng tùy tiện, gây khó khăn, phiền hà cho công dân. Bên cạnh đó, cũng có một thực tế là một bộ phận nhân dân chưa thực hiện tốt quy định của pháp luật về đăng ký thường trú, tạm trú, khai báo tạm vắng, làm cho hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước về cư trú chưa cao, tạo ra kẽ hở để các phần tử xấu lợi dụng tiến hành hoạt động xâm phạm đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, việc Quốc hội ban hành Luật Cư trú là cần thiết, đáp ứng các đòi hỏi khách quan, để công dân Việt Nam thực hiện quyền tự do cư trú ở trong nước của mình theo quy định của Hiến pháp và đáp ứng yêu cầu quản lý cư trú trong tình hình mới, trong điều kiện Việt Nam hội nhập, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế. Đó cũng là để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ  nghĩa của dân, do nhân dân và vì nhân dân, phục vụ đắc lực công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Ngày 29/11/2006, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XI, Luật Cư trú được Quốc hội thông qua, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2007. Sau 6 năm thi hành, nhằm khắc phục hạn chế, bất cập, để các quy định của Luật Cư trú phù hợp với thực tiễn, ngày 20/6/2013, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cư trú và Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014.

Luật Cư trú là văn bản quy phạm pháp luật quy định về quyền tự do cư trú của công dân trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trình tự, thủ tục đăng ký, quản lý cư trú; quyền, trách nhiệm của công dân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức về đăng ký, quản lý cư trú; áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về Việt Nam sinh sống.

  1. Quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật Cư trú:

2.1. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về cư trú phù hợp với chủ trương cải cách hành chính; phù hợp với tiến trình hội nhập, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế; phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

2.2. Tạo khuôn khổ pháp lý hữu hiệu để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, tạo thuận lợi tối đa cho công dân Việt Nam làm ăn, sinh sống, chống phiền hà, tiêu cực; đồng thời, bảo đảm cho công tác quản lý cư trú có hiệu quả trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.

2.3. Tạo cơ sở để củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác đăng ký, quản lý cư trú; đổi mới phương pháp, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học, công nghệ trong quản lý cư trú, bảo đảm tính khoa học, công nghệ trong quản lý cư trú, bảo đảm tính khoa học, dân chủ, công khai, minh bạch, thuận tiện cho đăng ký, quản lý cư trú.

2.4. Kế thừa những quy định hợp lý và đang phát huy tác dụng tốt trong công tác đăng ký, quản lý cư trú; đồng thới, tiếp thu có chọn lọc pháp luật và kinh nghiệm quản lý cư trú của nước ngoài để vận dụng phù hợp đặc điểm, điều kiện của đất nước.

2.5. Quy định một cách cụ thể các vấn đề liên quan đến cư trú, hạn chế mức thấp nhất việc phải ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật này để cơ quan nhà nước, mọi tổ chức và cá nhân chấp hành Luật nghiêm chỉnh, thống nhất.

II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT CƯ TRÚ VÀ VĂN BẢN QUY ĐỊNH CHI TIẾT HƯỚNG DẪN THI HÀNH

  1. Những quy định chung về cư trú và quản lý cư trú

Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn, dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú. Theo quy định tại Điều 4 Luật Cư trú, thì quyền cư trú của công dân và quản lý nhà nước về cư trú được thực hiện theo các nguyên tắc: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm hài hòa quyền, lọi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước, cộng đồng và xã hội; kết hợp giữa việc bảo đảm quyền tự do cư trú, các quyền cơ bản khác của công dân và trách nhiệm của Nhà nước với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; trình tự, thủ tục đăng ký thường trú, tạm trú phải đơn giản, thuận tiện, kịp thời, chính xác, công khai, minh bạch, không gây phiền hà; việc quản lý cư trú phải đảm bảo hiệu quả; mọi thay đổi về cư trú phải được đăng ký; mỗi người chỉ được đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại một nơi.

Nhà nước nghiêm cấm các hành vi sau đây xâm phạm quyền cư trú của công dân: Cản trở công dân thực hiện quyền tự do cư trú; lạm dụng quy định về hộ khẩu để hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; nhận hối lộ, cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, gây phiền hà trong việc đăng ký, quản lý cư trú; thu, sử dụng lệ phí đăng ký cư trú trái với quy định của pháp luật; tự đặt ra thời gian, thủ tục, giấy tờ, biểu mẫu trái với quy định của pháp luật hoặc làm sai lệch sổ sách, hồ sơ về cư trú; cố ý cấp hoặc từ chối cấp giấy tờ về cư trú  trái với quy định của pháp luật; lợi dụng quyền tự do cư trú để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; thuê, cho thuê, làm giả, sửa chữa, làm sai lệch nội dung sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác có liên quan đến cư trú; sử dụng giấy tờ giả về cư trú; cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về cư trú, giả mạo điều kiện để được đăng ký thường trú; tổ chức, kích động, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, môi giới, giúp sức, cưỡng bức người khác vi phạm pháp luật về cư trú; giải quyết cho đăng ký cư trú khi biết rõ người được cấp đăng ký cư trú không sinh sống tại chỗ ở đó; đồng ý cho người khác đăng ký cư trú vào chỗ ở của mình để vụ lợi hoặc trong thực tế người đăng ký cư trú không sinh sống tại chỗ ở đó.

  1. Quyền, trách nhiệm của công dân về cư trú

2.1 Quyền của công dân về cư trú

Công dân có quyền tự do cư trú theo quy định của Luật cư trú và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Theo quy định tại điều 9 Luật cư trú, quyền tự do cư trú của công dân thể hiện ở các quyền sau: Lựa chọn, quyết  định nơi thường trú, tạm trú của mình phù hợp với quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; được cấp, cấp lại, đổi sổ hộ khẩu, sổ tạm trú và các giấy tờ khác liên quan đến cư trú; được cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc thực hiện quyền cư trú; Yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện biện pháp bảo vệ quyền cư trú của mình ; Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với hành vi vi phạm pháp luật về cư trú theo quy định của pháp luật.

Quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định.

Theo Điều 10 Luật cư trú , công dân bị hạn chế quyền tự do cư trú trong các trường hợp sau đây: Người bị cơ quan tố tụng có thẩm quyền tiến hành áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Người bị tòa án áp dụng hình phạt cấm cư trú; Người bị tòa án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án, được hưởng án treo hoặc đang được hoãn , tạm đình chỉ thi hành án phạt tù; người đang bị quản chế; Người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ thi hành.

Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống và là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú và có thể thuộc quyền sở hữu, sử dụng của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Chỗ ở hợp pháp bao gồm: Nhà ở; tàu, thuyền, phương tiện khác nhằm mục đích để ở và phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân. Đối với chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn hoặc ở nhờ của cá nhân, tổ chức tại thành phố trực thuộc Trung ương phải đảm bảo về diện tích bình quân theo quy định của Hội đồng nhân dân thành phố. Luật cư trú quy định Windows 7 Home Premium Product Key nơi cư trú của những trường hợp cụ thể như sau:

Thứ nhất, đối với người chưa thành niên thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ, nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ người chưa thành niên thường xuyên chung sống. Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.

Thứ hai, đối với người được giám hộ thì nơi cư trú là nơi cư trú của người giám hộ. Người được giám hộ có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của người giám hộ nếu được người giám hộ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.

Thứ ba, đối với người đã kết hôn thì nơi cư trú của vợ, chồng là nơi vợ chồng thường xuyên chung sống. Vợ, chồng có thể có nơi cư trú khác nhau nếu có thỏa thuận.

Thứ tư, đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân thì nơi cư trú của người đang làm nghĩa vụ quân sự hoặc đang phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân là nơi đơn vị của người đó đóng quân. Nơi cư trú của sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn nghiệp vụ, công nhân, viên chức Công an nhân dân là nơi đơn vị của người đó đóng quân, trừ trường hợp họ có chỗ ở hợp pháp.

Thứ năm, đối với người làm nghề lưu động thì nơi cư trú của người làm nghề lưu động trên tàu, thuyền, phương tiện hành nghề lưu động khác là nơi đăng ký tàu, thuyền, phương tiện đó, trừ trường hợp họ có chỗ ở hợp pháp.

2.2 Trách nhiệm của công dân về cư trú:

Yêu cầu cơ bản đặt ra đối với Luật Cư trú là, vừa phải bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân, vừa phải bảo đảmcho công tác quản lý cư trú có hiệu quả cao. Trước hết là quyền của công dân về cư trú. Theo quy định tại Điều 9, công dân có năm quyền sau đây: Một là, lựa chọn, quyết định nơi thường trú, tạm trú của mình phù hợp với quyđịnh của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Hai là, được cấp, cấp lại, đổi sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú. Ba là, được cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc thực hiện quyền cư trú. Bốn là, yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện biện pháp bảo vệ quyền cư trú của mình. Năm là, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với hành vi vi phạm pháp luật về cư trú theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh việc quy định về quyền của công dân về cư trú, Luật cư trú cũng xác định rõ các trường hợp bị hạn chế quyền tự do cư trú. Đó là người bị cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; người bị Toà án áp dụng hình phạt cấm cư trú; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án,được hưởng án treo hoặc đang được hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù; người đang bị quản chế; người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ thi hành.

Về trách nhiệm, công dân phải chấp hành các quy định của pháp luật về cư trú. Cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu về cư trú của mình cho cơ quan, người có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về thông tin, tài liệu đã cung cấp. Nộp lệ phí đăng ký cư trú. Xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú khi cơ quan, người có thẩm quyền yêu cầu. Báo ngay với cơ quan đã đăng ký cư trú khi sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú bị mất hoặc bị hư hỏng.

Một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng mà Luật cư trú đã quy định, đó là nơi cư trú của công dân (Điều 12). Đâyđược xem là yếu tố không thể thiếu để được đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú. Theo đó, nơi cư trú của công dânđược quy định là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú. Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăngký tạm trú. Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Chỗ ở hợp pháp là một trong những điều kiện cần thiết để công dân được đăng ký cư trú.

So với quy định của Nghị định số 51/CP đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 108/2005/NĐ-CP ngày 19-8-2005 và Thông tư số 11/2005/TT-BCA-C11 ngày 7-10-2005 của Bộ Công an hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 51/CP và Nghị định số 108/2005/NĐ-CP, Luật cư trú có một số điểm mới là: Thứ nhất, quy định chỗ ở hợp pháp theo hướng rộng hơn, bao gồm “nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú”; còn Nghị định số 51/CP sửa đổi và Thông tư số 11 chỉ giới hạn là nhà ở và phương tiện. Thứ hai, nhà ở được coi là chổ ở hợp pháp cũng được quy định rộng hơn, có thể là nhà thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Còn theo quy định tại Nghị định số 51/CP sửa đổi và Thông tư số 11, thì không cho đăng ký thường trú đối với trường hợp nhà ở là do mượn, ở nhờ (trừ cán bộ, công chức được điều động, tuyển dụng đến làm việc ở thành phố, thị xã).

Thực tế có nhiều trường hợp người đi thuê hoặc ở nhờ nhà của người khác nhưng lại có Windows 7 Product Key hành vi gây tranh chấp dân sự với chủ nhà (như đòi được chia nhà…) làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nhà, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự. Để khắc phục tình trạng này, Điều 19 và Điều 20 quy định: đối với trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ nhà của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản. Điều đó có nghĩa là, nếu chủ nhà không đồng ý cho người ở nhờ, thuê nhà, mượn nhà được đăng ký thường trú, thì không được cơ quan có thẩm quyền giải quyết đăng ký thường trú. Đối với trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ nhà của Nhà nước, của các tổ chức chuyên kinh doanh nhà thì không cần phải có sựđồng ý của chủ nhà; bởi vì, theo quy định của Bộ luật Dân sự thì Nhà nước, các tổ chức chuyên kinh doanh nhà, khiđã cho người khác mượn, thuê, cho ở nhờ nhà phải làm hợp đồng. Nội dung của hợp đồng này đã thể hiện sự đồng ý cho đăng ký thường trú vào ngôi nhà đó. Quy định nói trên của Luật Cư trú là nhằm bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân và đơn giản hoá thủ tục đăng ký thường trú.

  1. Đăng ký thường trú

3.1. Điều kiện đăng ký thường trú

3.1.1. Điều kiện đăng ký thường trú tại tỉnh:

Công dân có chỗ ở hợp pháp ở tỉnh nào thì được đăng ký thường trú tại tỉnh đó. Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản.

3.1.2. Điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương:

Công dân thuộc một trong những trường hợp sau đây thì được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương:

– Được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Vợ về ở với chồng, chồng về ở với vợ;

+ Con về ở với cha, mẹ; cha, mẹ về ở với con;

+ Người hết tuổi lao động, nghỉ hưu, mất sức, thôi việc chuyển về ở với anh, chị, em ruột;

+ Người tàn tật mất khả năng lao động, người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi về ở với anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ;

+ Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc còn nhưng cha, mẹ không có khả năng nuôi dưỡng về ở với ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ;

+ Người thành niên độc thân về sống với ông, bà nội, ngoại;

– Được điều động, tuyển dụng đến làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc theo chế độ hợp đồng không xác định thời hạn và có chỗ ở hợp pháp.

– Trước đây đã đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương, nay trở về thành phố đó sinh sống tại chỗ ở hợp pháp của mình.

– Có chỗ ở hợp pháp tại thành phố trực thuộc Trung ương và tạm trú liên tục tại chỗ ở đó từ một năm trở lên. Nơi đề nghị được đăng ký thường trú phải là nơi đăng ký tạm trú.

* Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản. Riêng các trường hợp đăng ký tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh phải đảm bảo diện tích tối thiểu 5m2 sàn/01 người.

3.2. Thời hạn đăng ký thường trú:

– Trong thời hạn 24 tháng, kể từ ngày chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới, người thay đổi hoặc đại diện hộ gia đình có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký thường trú tại chỗ ở mới.

– Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày trẻ em được đăng ký khai sinh, cha, mẹ hoặc đại diện hộ gia đình, người nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký thường trú cho trẻ em đó.

– Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày có ý kiến đồng ý của người có sổ hộ khẩu, người được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ của mình hoặc đại diện hộ gia đình có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký thường trú.
 Buy Widnows 10 home Key  |
 Office Professional Plus 2016 Key  |
 Buy Widnows 7 home premium product Key  |

3.3. Hồ sơ đăng ký thường trú:

3.3.1. Hồ sơ đăng ký thường trú, bao gồm:

– Bản khai nhân khẩu;

– Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu;

– Giấy chuyển hộ khẩu (đối với các trường hợp chuyển đi ngoài phạm vi xã, thị trấn thuộc tỉnh; thị xã, thành phố thuộc tỉnh, quận, huyện, thị xã của thành phố trực thuộc Trung ương);

– Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp (trừ trường hợp được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình).

Đối với chỗ ở hợp pháp là nhà ở do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì người cho thuê,cho mượn, cho ở nhờ nhà ở của mình phải ghi rõ ý kiến đồng ý cho đăng ký thường trú vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu, ký, ghi rõ họ, tên và ngày, tháng, năm (trường hợp trong văn bản cho thuê, mượn, ở nhờ đó nêu rõ nội dung đồng ý cho đăng ký thường trú vào nhà thuê, mượn, ở nhờ thì không cần ý kiến của chủ hộ vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu).

Đối với chỗ ở là nhà ở do thuê, mượn hoặc ở nhờ tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh thì diện tích cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ phải ghi rõ trong hợp đồng, bảo đảm diện tích tối thiểu là 5m2 sàn/1 người. Diện tích sàn được hiểu và thực hiện theo quy định của pháp luật về nhà ở.

Đối với trường hợp có quan hệ gia đình là ông, bà nội; ông, bà ngoại; cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh, chị, em ruột, cháu ruột quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật Cư trú chuyển đến ở với nhau thì không cần phải xuất trình giấy tờ tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp nhưng phải xuất trình giấy tờ, tài liệu chứng minh hoặc xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn về mối quan hệ nêu trên.

Công dân khi làm thủ tục đăng ký thường trú phải xuất trình bản chính chứng minh chỗ ở hợp pháp, nộp bản sao giấy tờ, tài liệu được cấp từ sổ gốc, bản sao được công chứng, chứng thực giấy tờ cho cơ quan đăng ký cư trú.

– Ngoài các giấy tờ chung có trong hồ sơ đăng ký thường trú theo hướng dẫn trên, các trường hợp dưới đây phải có thêm các giấy tờ sau:

+ Người chưa thành niên nếu không đăng ký thường trú cùng cha, mẹ; cha hoặc mẹ mà đăng ký thường trú cùng với người khác thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ; cha hoặc mẹ.

+ Người được cơ quan, tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc tập trung khi đăng ký thường trú thì cơ quan, tổ chức đó có văn bản đề nghị. Trường hợp được cá nhân chăm sóc, nuôi dưỡng tập trung thì cá nhân đó có văn bản đề nghị có xác nhận của UBND cấp xã. Văn bản đề nghị cần nêu rõ các thông tin cơ bản của từng người như sau: họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quê quán, dân tộc, tôn giáo, số chứng minh nhân dân, nơi thường trú trước khi chuyển đến, địa chỉ chỗ ở hiện nay.

+ Trẻ em khi đăng ký thường trú  lần đầu phải có giấy khai sinh.

+ Người sinh sống tại các cơ sở tôn giáo khi đăng ký thường trú phải có giấy tờ chứng minh là chức sắc tôn giáo, nhà tu hành hoặc người khác chuyên hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu nước ngoài, giấy tờ thay hộ chiếu do nước ngoài cấp còn giá trị hoặc không có hộ chiếu nhưng có giấy tờ thường trú do nước ngoài cấp nay trở về Việt Nam thường trú, khi đăng ký thường trú phải có giấy tờ hồi hương do cơ quan đại diện của Việt nam ở nước ngoài cấp (nếu người đó ở nước ngoài) hoặc văn bản đồng ý cho giải quyết thường trú của Cục quản lý xuất nhập cảnh (nếu người đó đang tạm trú ở trong nước), kèm theo Giấy giới thiệu do Phòng quản lý xuất nhập cảnh nơi người đó xin thường trú cấp.

+ Công dân Việt nam định cư ở nước ngoài có hộ chiếu Việt Nam còn giá trị sử dụng trở về Việt Nam thường trú khi đăng ký thường trú phải có hộ chiếu Việt Nam có dấu kiểm chứng nhập cảnh của lực lượng kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu.

+ Người nước ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam khi đăng ký thường trú phải có giấy tờ chứng minh có quốc tịch Việt Nam.

+ Sỹ quan, hạ sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ; sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên môn kỹ thuật; công nhân, viên chức CAND ở trong doanh trại của quân đội nhân dân và Công an nhân dân khi đăng ký thường trú cùng gia đình thì phải có giấy giới thiệu của Thủ trưởng đơn vị quản lý trực tiếp (ký tên, đóng dấu, ghi rõ họ tên).

+ Cá nhân được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình khi đăng ký thường trú phải có ý kiến đồng ý cho đăng ký thường trú của chủ hộ, chữ ký, ghi rõ họ, tên và ngày, tháng, năm vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu.

– Chú ý: Ngoài các giấy tờ có trong hồ sơ đăng ký thường trú hướng dẫn trên, các trường hợp chuyển đến đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương tùy từng trường hợp cụ thể phải có thêm một trong các giấy tờ sau:

+ Đối với trường hợp công dân có chỗ ở hợp pháp và đã tạm trú liên tục tại thành phố đó từ một năm trở lên phải có một trong các giấy tờ sau: Sổ tạm trú hoặc xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn về thời gian và nơi đăng ký tạm trú (đối với trường hợp đăng ký tạm trú nhưng không cấp sổ tạm trú).

+ Đối với trường hợp vợ về ở với chồng; chồng về ở với vợ phải có một trong các giấy tờ sau: Giấy đăng ký kết hôn, sổ hộ khẩu hoặc xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú.

+ Đối với trường hợp con về ở với cha, mẹ; cha, mẹ về ở với con phải có một trong các giấy tờ sau: Giấy khai sinh; quyết định công nhận việc nuôi con nuôi; quyết định việc nhận cha, mẹ, con; sổ hộ khẩu hoặc xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú.

+ Đối với trường hợp người hết tuổi lao động, nghỉ hưu, nghỉ mất sức, nghỉ thôi việc chuyển về ở với anh, chị, em ruột phải có các giấy tờ sau:

Giấy tờ chứng minh mối quan hệ anh, chị, em ruột; sổ hộ khẩu, giấy khai sinh hoặc xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú.

Giấy tờ để chứng minh là người hết tuổi lao động: Giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân hoặc xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú về ngày, tháng, năm sinh.

Giấy tờ để chứng minh là người được nghỉ chế độ hưu: Sổ hưu; xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội; xác nhận của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc trước khi nghỉ hưu hoặc UBND cấp xã nơi cư trú.

Giấy tờ để chứng minh về việc công dân nghỉ mất sức, nghỉ thôi việc: quyết định hoặc xác nhận của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc trước khi nghỉ mất sức, nghỉ thôi việc hoặc xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú.

+ Đối với trường hợp người tàn tật, mất khả năng lao động, người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi về ở với anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ phải có các giấy tờ sau:

Xác nhận của UBND cấp xã đối với người tàn tật.

Chứng nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên đối với người mất khả năng lao động, người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi.

Sổ hộ khẩu, giấy khai sinh hoặc xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú để chứng minh mối quan hệ anh, chị, em, cô, dì, chú, bác, cậu ruột.

Văn bản về việc cử người giám hộ của UBND cấp xã nơi cư trú, trừ các trường hợp người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên, của người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự.

+ Đối với trường hợp người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có khả năng nuôi dưỡng về ở với ông bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ phải có giấy tờ sau:

Giấy tờ để xác định là người chưa thành niên: Giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân hoặc xác nhận ngày, tháng, năm sinh do UBND xã nơi cư trú cấp.

Giấy tờ chứng minh không còn cha mẹ: Giấy chứng tử của cha, mẹ hoặc quyết định của Toà án tuyên bố cha, mẹ mất tích, chết hoặc xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú về việc cha, mẹ đó chết.

Xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú về việc cha, mẹ không có khả năng nuôi dưỡng.

Ngoài các giấy tờ trên, tùy từng trường hợp cụ thể khi đăng ký thường trú công dân phải có giấy tờ chứng minh hoặc xác nhận của UBND cấp xã về mối quan hệ ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ.

+ Đối với trường hợp người thành niên độc thân về sống với ông bà nội, ngoại phải có giấy tờ sau:

Giấy tờ chứng minh là người độc thân: Xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú.

Giấy tờ để chứng minh mối quan hệ ông, bà nội; ông, bà ngoại: Sổ hộ khẩu, giấy khai sinh hoặc xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú.

+ Đối với trường hợp được điều động, tuyển dụng đến làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước phải có giấy tờ sau:

Giấy giới thiệu của thủ trưởng đơn vị quản lý trực tiếp (kể cả Quân đội nhân dân và Công an nhân dân) kèm theo một trong các giấy tờ sau:

. Quyết định điều động, tuyển dụng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước là cán bộ, công chức, người thuộc quân đội nhân dân, Công an nhân dân.

. Quyết định về nâng lương cán bộ, công chức; nâng lương, phong, thăng cấp bậc hàm; quyết định bổ nhiệm chức vụ thuộc quân đội nhân dân, Công an nhân dân.

Xác nhận của thủ trưởng đơn vị quản lý trực tiếp về việc đang làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

+ Đối với trường hợp người đang làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn tại các cơ quan, tổ chức phải có các giấy tờ sau:

Giấy giới thiệu của thủ trưởng đơn vị trực tiếp kèm theo một trong các giấy tờ sau:

. Hợp đồng lao động không xác định thời hạn theo quy định của pháp luật lao động.

. Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước theo pháp luật cán bộ công chức.

Riêng đối với những người là lãnh đạo thuộc cơ quan, tổ chức thì Quyết định của cấp có thẩm quyền về bổ nhiệm, điều động lãnh đạo thuộc cơ quan, tổ chức hoặc giấy tờ chứng minh là người lãnh đạo của cơ quan, tổ chức đó để thay cho hợp đồng không xác định thời hạn.

Xác nhận (ký tên, đóng dấu) của thủ trưởng cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp (kể cả Quân đội nhân dân và Công an nhân dân) về việc công dân đang làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn (áp dụng cho mọi cơ quan, tổ chức, kể cả các tổ chức kinh tế có sử dụng lao động) hoặc theo chế độ hợp đồng làm việc không xác định thời hạn.

+ Đối với trường hợp trước đây đã đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc TW nhưng đã chuyển đi nơi khác nay trở về đăng ký thường trú phải có một trong các loại giấy tờ sau: Sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân hoặc xác nhận của Công an quận, huyện, thị xã nơi công dân trước đây đã đăng ký thường trú ở thành phố trực thuộc Trung ương đó.

3.3.2. Giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp

Giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp để đăng ký thường trú là một trong các giấy tờ sau :

– Giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp thuộc quyền sở hữu của công dân là một trong các giấy tờ sau đây:

+ Giấy chứng nhận về quyển sở hữu nhà ở hoặc giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ;

+ Giấy tờ về quyền sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật về đất đai;

+ Giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng (đối với trường hợp phải cấp giấy phép);

+ Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà n­ước hoặc giấy tờ về hoá giá thanh lý nhà ở thuộc sở hữu nhà n­ước;

+ Hợp đồng mua nhà ở hoặc giấy tờ chứng minh việc đã bàn giao nhà ở, đã nhận nhà ở của doanh nghiệp có chức năng kinh doanh nhà ở đầu tư­ xây dựng để bán;

+ Giấy tờ về mua, bán, tặng, cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở có công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, ph­ường, thị trấn (sau đây gọi tắt là Uỷ ban nhân dân cấp xã);

+ Giấy tờ về giao tặng nhà tình nghĩa, nhà tình th­ương, nhà đại đoàn kết, cấp nhà ở, đất ở cho cá nhân, hộ gia đình hoặc các đối tượng khác;

+ Giấy tờ của Toà án hoặc cơ quan nhà n­ước có thẩm quyền giải quyết cho đ­ược sở hữu nhà ở đã có hiệu lực pháp luật;

+ Giấy tờ có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã về nhà ở, đất ở không có tranh chấp quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở nếu không có một trong các giấy tờ nêu trên;

+ Giấy tờ chứng minh về đăng ký tàu, thuyền, ph­ương tiện khác thuộc quyền sở hữu và địa chỉ bến gốc của ph­ương tiện sử dụng để ở. Tr­ường hợp không có giấy đăng ký thì cần có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã về việc có tàu, thuyền, ph­ương tiện khác sử dụng để ở thuộc quyền sở hữu hoặc xác nhận việc mua bán, tặng cho, đổi, thừa kế tàu, thuyền, ph­ương tiện khác và địa chỉ bến gốc của ph­ương tiện đó.

– Giấy tờ chứng minh việc cho thuê, cho m­ượn, cho ở nhờ chỗ ở hợp pháp là hợp đồng cho thuê, cho m­ượn, cho ở nhờ nhà ở, nhà khác của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân (trường hợp hợp đồng cam kết thuê, mượn, ở nhờ nhà của cá nhân phải có công chứng hoặc xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã); Đối với nhà ở, nhà khác tại Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh trong hợp đồng phải ghi rõ diện tích cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ.

– Giấy tờ của cơ quan, tổ chức, cơ sở tôn giáo về việc công dân có chỗ ở thuộc trư­ờng hợp quy định tại điểm c, điểm d,  khoản 1 Điều 26 của Luật C­ư trú;

– Giấy tờ do thủ trư­ởng cơ quan, tổ chức ký tên, đóng dấu chứng minh về việc đ­ược cấp, sử dụng nhà ở, chuyển nh­ượng nhà ở, có nhà ở tạo lập trên đất do cơ quan, tổ chức giao đất để làm nhà ở (đối với nhà ở, đất thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức) hoặc xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã là nhà ở đó không có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng.

Chú ý: Không đăng ký thường trú khi công dân chuyển đến chỗ ở mới, thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Chỗ ở nằm trong địa điểm cấm, khu vực cấm xây dựng hoặc lấn chiếm mốc giới bảo vệ công trình hạ tầng kỹ thuật, di tích lịch sử, văn hoá đã được xếp hạng.

+ Chỗ ở mà toàn bộ diện tích nhà ở nằm trên đất lấn chiếm trái phép.

+ Chỗ ở đã có phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; chỗ ở là nhà ở mà một phần hoặc toàn bộ diện tích đang có tranh chấp, khiếu nại liên quan đến quyền sở hữu, sử dụng nhưng chưa được giải quyết theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp những người có quan hệ là ông, bà nội, ngoại, cha, mẹ, vợ, chồng, con chuyển đến ở với nhau).

+ Chỗ ở bị kê biên, tịch thu để thi hành án, trưng mua theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

+ Chỗ ở là nhà ở đã có quyết định phá dỡ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Như vậy đăng ký thường trú là việc công dân đăng ý nơi thường trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký thường trú, cấp sổ hộ khẩu.

Điều kiện đăng ký thường trú là công dân có chỗ ở hợp pháp, trường hợp đăng ký thường trú vào huyện thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố đó từ một năm trở lên, trường hợp đăng ký thường trú vào quận thì phải có thời gian tạm trú tại tỉnh, thành phố đó từ hai năm trở lên;

– Được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+) Vợ về ở với chồng; chồng về ở với vợ; con về ở với cha, mẹ; cha, mẹ về ở với con;

+) Người hết tuổi lao động, nghỉ hưu, nghỉ mất sức, nghỉ thôi việc về ở với anh, chị, em ruột;

+) Người khuyết tật, mất khả năng lao động, người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi về ở với anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ;

+) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có khả năng nuôi dưỡng về ở với ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ;

+) Người thành niên độc thân về ở với ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột;

+) Ông bà nội, ngoại về ở với cháu ruột;

– Được điều động, tuyển dụng đến làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc theo chế độ hợp đồng không xác định thời hạn và có chỗ ở hợp pháp;

Đối với các trường hợp đăng ký thường trú vào chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân, tổ chức thì phải có đủ các điều kiện sau đây:

  1. a) Bảo đảm điều kiện về diện tích bình quân theo quy định của Hội đồng nhân dân thành phố;
  2. b) Có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn về điều kiện diện tích bình quân;
  3. c) Được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản;

Về thủ tục đăng ký thường trú: người đăng ký thường trú nộp Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; bản khai nhân khẩu; Giấy chuyển hộ khẩu; Giấy tờ và tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp; các giấy tờ liên quan khác đến cơ quan Công an cấp huyện. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan Công an cấp huyện sẽ cấp sổ hộ khẩu cho người đã nộp hồ sơ đăng ký thường trú; trường hợp không cấp phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

  1. Đăng ký tạm trú

Đăng ký tạm trú là việc công dân đăng ký nơi tạm trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký tạm trú, cấp sổ tạm trú cho họ (khoản 1 Điều 30 Luật Cư trú). Theo quy định tại khoản 4 Điều 30 Luật Cư trú thì:Sổ tạm trú được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký tạm trú, có giá trị xác định nơi tạm trú của công dân và không xác định thời hạn.

Theo quy định nêu trên thì việc công an xã cấp Phiếu khai báo tạm trú có thời hạn 01 năm cho bạn không phải là đăng ký tạm trú. Trường hợp của bạn có thể là thủ tục lưu trú theo quy định tại Điều 30 Luật Cư trú: Lưu trú là việc công dân ở lại trong một thời gian nhất định tại địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn ngoài nơi cư trú của mình và không thuộc trường hợp phải đăng ký tạm trú.

Nếu bạn thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 30 Luật Cư trú (Người đang sinh sống, làm việc, lao động, học tập tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn nhưng không thuộc trường hợp được đăng ký thường trú tại địa phương đó thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày đến phải đăng ký tạm trú tại Công an xã, phường, thị trấn) thì bạn có thể làm thủ tục đăng ký tạm trú theo quy định.

– Hồ sơ đăng ký tạm trú, bao gồm:

– Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; bản khai nhân khẩu.

– Giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 107/2007/NĐ-CP (được sửa đổi tại Nghị định số 56/2010/NĐ-CP ngày 24/5/2010) (trừ trường hợp được chủ hộ có sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú đồng ý cho đăng ký tạm trú thì không cần xuất trình giấy tờ về chỗ ở). Đối với trường hợp thuê, mượn, ở nhờ chỗ ở hợp pháp thì đăng ký tạm trú phải có ý kiến đồng ý đăng ký tạm trú của người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu, ký, ghi rõ họ tên và ngày, tháng, năm.

– Xuất trình chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn nơi người đó đăng ký thường trú.

– Người tạm trú được chủ hộ đồng ý cho nhập vào sổ tạm trú hoặc chủ hộ đồng ý cho đăng ký tạm trú tại nơi thường trú của chủ hộ thì việc đồng ý phải được ghi vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu, ký, ghi rõ họ tên và ngày, tháng, năm.

– Người đăng ký tạm trú nộp hồ sơ đăng ký tạm trú tại Công an xã, phường, thị trấn.

III. QUÁN TRIỆT, THỰC HIỆN LUẬT CƯ TRÚ TRONG QUÂN ĐỘI

  1. Một số vấn đề về cư trú trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Việc quản lý quân nhân, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng trong Quân đội nhân dân Việt Nam được thực hiện theo quy định riêng của Bộ Quốc phòng (Theo điều lệnh quản lý bộ đội, Điều lệnh đóng quân canh phòng, Điều lệnh kỷ luật quân đội và nội quy, quy định của cơ quan, đơn vị), tuy nhiên, với tư cách là một công dân, khi tham gia vào các quan hệ xã hội có liên quan đến lĩnh vực cư trú, mỗi quân nhân, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng còn phải chịu sự điều chỉnh của Luật Cư trú và các quy định có liên quan.

Thực tế hiện nay mỗi cơ quan, đơn vị trong Quân đội có rất nhiều đối tượng khác nhau, vì vậy, xác định nơi cư trú theo pháp luật của mỗi đối tượng cũng khác nhau. Để nắm được nơi cư trú của quân nhân, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc trường hợp nào thì trước hết phải căn cứ vào quy định của pháp luật dân sự, Luật cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành để xác định. Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì nơi cư trú của cá nhân được quy định tại Điều 52 như sau:

  1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.

2.Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại Khoản 1 Điều này thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống.

Điều 56 của Bộ Luật Dân sự cũng quy định về nơi cư trú của quân nhân như sau:

  1. Nơi cú trú của sĩ quan quân đội, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng là nơi đơn vị của những người đó đóng quân, trừ trường hợp họ có nơi cư trú theo quy định tại Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật này.

Tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 18/4/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú quy định: Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú; mỗi công dân chỉ được đăng ký thường trú tại một chỗ ở hợp pháp và là nơi thường xuyên sinh sống. Thông tư số 35/2014/TT-BCA ngày 9/9/2014 của Bộ Công an Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cư trú và Nghị định số 31/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định như sau:

  1. Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân, viên chức Công an nhân dân ở ngoài doanh trại của Quân đội nhân dân. Công an nhân dân thì thực hiện đăng ký cư trú theo quy định của Luật Cư trú và hướng dẫn tại Thông tư này.
  2. Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân, viên chức Công an nhân dân; người đang làm nghĩa vụ quân sự, phục vụ có thời hạn trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân ở trong doanh trại của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân thì quản lý cư trú theo quy định riêng của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.

Như vậy, đối với các đối tượng làm nghĩa vụ quân sự có thời hạn trong Quân đội nhân dân thì nơi cư trú của họ là nơi đơn vị đóng quân trong thời gian làm nghĩa vụ quân sự. Các đối tượng khác như sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng ở trong đơn vị thì nơi cư trú của họ là nơi đơn vị đóng quân; trường hợp có nơi ở hợp pháp và thường xuyên sinh sống, tức là các đối tượng này phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ về cư trú như các công dân khác.

  1. Tổ chức thi hành Luật Cư trú trong quân đội nhân dân Việt Nam

Luật Cư trú ra đời đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho công dân nói chung, quân nhân, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng nói riêng trong việc lựa chọn nơi cư trú, đồng thời phát huy dân chủ, mở rộng quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc tham gia, giám sát các hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực cư trú, bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước ngày càng có hiệu quả.

Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Luật Cư trú trong quân đội, cần chú trọng thực hiện các nội dung sau:

2.1 Đối với cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị

Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân tổ chức phổ biến, quán triệt toàn văn Luật Cư trú; đặc biệt là những nội dung cơ bản của Luật cư trú trong tài liệu do bên trên cung cấp mà cơ quan đã gửi cho các đồng chí, cũng như các văn bản có liên quan đến việc thi hành Luật cứ trú. Quá trình tổ chức thực hiện huy động được sự tham gia của các lực lượng trong cơ quan, đơn vị; tăng cường phối hợp chặt chẽ với các cơ quan như: Tòa án quân sự, Viện Kiểm sát quân sự và các cơ quan tư pháp, công an trên địa bàn để tổ chức thực hiện bằng hình thức phong phú, sinh động, phù hợp với từng nhóm đối tượng để quân nhân, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng và người lao động trong Nhà máy nhận thức sâu sắc các quy định của Luật, góp phần nâng cao ý thức pháp luật nói chung và pháp luật về cư trú nói riêng.

Bảo đảm tài liệu và các điều kiện vật chất cần thiết khác phục vụ cho việc phổ biến, quán trệt, học tập luật Luật Cư trú một cách thuận lợi nhất. Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng tuyên truyền cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên trong đơn vị để để phát huy hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Thông qua việc quán triệt, học tập Luật Cư trú, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần kết hợp với cơ quan công an, chính quyền địa phương rà soát, nắm chắc số quân nhân, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng sinh sống thường xuyên ngoài đơn vị để giúp đỡ tạo điều kiện cho họ thực hiện đúng các quy định của pháp luật về cư trú; đồng thời theo dõi, quản lý chặt chẽ việc chấp hành các quy định của chính quyền địa phương tại nơi cư trú của quân nhân, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng.

Đối với các cơ quan, đơn vị có đảng viên sinh hoạt đảng hai chiều theo Quy định số 76/QĐ-TW ngày 15/6/2000 của Bộ Chính trị quy định về đảng viên đang công tác ở cơ quan, đơn vị sự nghiệp thường xuyên giữ mối liên hệ với cấp ủy đảng cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú, định kỳ hàng năm hoặc khi cần thiết thông qua việc nắm kết quả sinh hoạt hai chiều của đảng viên các cơ quan, đơn vị kết hợp với tổ chức đảng tại nơi cư trú nắm chắc việc chấp hành các quy định của pháp luật nói chung, pháp luật về cư trú nói riêng.

2.2. Đối với quân nhân, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng

Mỗi quân nhân, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng, ngoài việc phải thực hiện tốt các quy định của Điều lệnh quản lý bộ đội, nội quy, quy định của cơ quan, đơn vị còn phải thực hiện tốt nghĩa vụ công dân theo quy định của Luật Cư trú; tự giác, tích cực học tập để nắm vững các nội dung của Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật; động viên các thành viên trong cơ quan, đơn vị và gia đình chấp hành và thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về cư trú để góp phần đưa pháp luật về cư trú đi vào cuộc sống, đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội, giữ nghiêm kỷ luật quân đội ở từng cơ quan, đơn vị trong toàn quân./.

 

KẾT LUẬN

Quyền tự do cư trú của công dân theo quy định của Luật Cư trú là việc công dân có quyền tự mình lựa chọn, quyết định nơi thường trú, nơi tạm trú theo quy định của Luật Cư trú và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Quyền tự do cư trú của công dân còn được thể hiện bằng việc công dân có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú cho họ.

Luật Cư trú cũng quy định cụ thể 9 nhóm hành vi bị nghiêm cấm (Điều 8), để áp dụng đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân, nhằm bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân được thực hiện nghiêm chỉnh, không bị gây phiền hà trong khi thực hiện việc đăng ký thường trú, tạm trú hoặc lưu trú. Đồng thời bảo đảm cho công tác quản lý cư trú đạt hiệu quả cao, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự. Đó là việc nghiêm cấm cản trở công dân thực hiện quyền tự do cư trú; lạm dụng quy định về hộ khẩu để hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; nhận hối lộ, cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, gây phiền hà trong việc đăng ký, quản lý cư trú; thu, sử dụng lệ phí đăng ký cư trú trái với quy định của pháp luật; tự đặt ra thời gian, thủ tục, giấy tờ, biểu mẫu trái với quy định của pháp luật hoặc làm sai lệch sổ sách, hồ sơ về cư trú; cố ý cấp hoặc từ chối cấp giấy tờ về cư trú trái với quy định của pháp luật; lợi dụng quyền tự do cư trú để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; thuê, cho thuê, làm giả, sửa chữa, làm sai lệch nội dung sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác có liên quan đến cư trú; sử dụng giấy tờ giả về cư trú; cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về cư trú; giả mạo điều kiện để được đăng ký thường trú; tổ chức, kích động, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, môi giới, giúp sức, cưỡng bức người khác vi phạm pháp luật về cư trú; giải quyết cho đăng ký cư trú khi biết rõ người được cấp đăng ký cư trú không sinh sống tại chỗ ở đó; đồng ý cho người khác đăng ký cư trú vào chỗ ở của mình để vụ lợi hoặc trong thực tế người đăng ký cư trú không sinh sống tại chỗ ở đó.

Chỗ ở hợp pháp là một trong những điều kiện cần thiết để công dân được đăng ký cư trú. So với những quy định trước đây về cư trú thì Luật Cư trú có nhiều điểm mới. Thứ nhất, quy định chỗ ở hợp pháp theo hướng rộng hơn, bao gồm “nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú”. Còn Nghị định số 51/CP sửa đổi và Thông tư số 11 chỉ giới hạn là nhà ở và phương tiện. Thứ hai, nhà ở được coi là chỗ ở hợp pháp cũng được quy định rộng hơn, có thể là nhà thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Còn theo quy định tại Nghị định số 51/CP sửa đổi và Thông tư số 11, thì không cho đăng ký thường trú đối với trường hợp nhà ở là do mượn, ở nhờ (trừ cán bộ, công chức được điều động, tuyển dụng đến làm việc ở thành phố, thị xã). Thực tế có nhiều trường hợp người đi thuê hoặc ở nhờ nhà của người khác nhưng lại có hành vi gây tranh chấp dân sự với chủ nhà (như đòi được chia nhà…) làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nhà, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự.

Để khắc phục tình trạng này, Điều 19 và 20 của Luật quy định: đối với trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ nhà của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản. Điều đó có nghĩa là, nếu chủ nhà không đồng ý cho người ở nhờ, thuê nhà, mượn nhà được đăng ký thường trú, thì không được cơ quan có thẩm quyền giải quyết đăng ký thường trú.

Trong điều kiện của nước ta hiện nay, việc giữ mô hình quản lý cư trú bằng việc cấp sổ hộ khẩu, sổ tạm trú cho công dân vẫn cần thiết, nhằm góp phần bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; phục vụ các chính sách quan trọng khác. Việc giữ mô hình quản lý cư trú này với những quy định về trình tự, thủ tục, điều kiện đơn giản, thuận lợi hơn, cùng với việc chấn chỉnh khâu tổ chức thực hiện sẽ góp phần bảo đảm cho công dân thực hiện quyền tự do cư trú. Đồng thời, vẫn giúp cho công tác quản lý của Nhà nước về cư trú được hiệu quả.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*