Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật BHYT

I.SỰ CẦN THIẾT PHẢI BAN HÀNH LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ

Ngày 14 tháng 11 năm 2008, Luật bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2009.

Luật bảo hiểm y tế được ban hành đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hệ thống pháp luật về bảo hiểm y tế, là cơ sở pháp lý cao nhất để thể chế hoá quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển bảo hiểm y tế toàn dân. Sau 3 năm triển khai thực hiện, Luật bảo hiểm y tế đã thực sự đi vào cuộc sống, khẳng định tính đúng đắn, tính phù hợp trong việc lựa chọn chính sách tài chính y tế thông qua bảo hiểm y tế – một trong những chính sách an sinh xã hội, nhân đạo, ưu việt của Đảng và Nhà nước ta và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng:

– Công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế ngày càng được tăng cường, công tác tuyên truyền về bảo hiểm y tế đã đi vào chiều sâu, đổi mới về hình thức và đã huy động được sự tham gia, vào cuộc của cả hệ thống chính trị.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc do thực tế nảy sinh, do một số quy định không còn phù hợp với thực tiễn cần phải được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung,cụ thể như sau:

Thứ nhất, về đối tượng, hình thức tham gia bảo hiểm y tế

– Khoản 1 Điều 2 của Luật quy định các đối tượng “có trách nhiệm” tham gia BHYT nhưng sau 3 năm thực hiện Luật, tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế chưa đầy đủ, tính tuân thủ pháp luật về bảo hiểm y tế chưa cao nên cần phải quy định rõ trong Luật việc bắt buộc phải tham gia bảo hiểm y tế để thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân.

  • Luật quy định 25 đối tượng chủ yếu tham gia bảo hiểm y tế theo hình thức cá nhân do nhiều cơ quan quản lý, lập danh sách cấp thẻ bảo hiểm y tế dẫn đến tình trạng cấp trùng thẻ bảo hiểm y tế; tình trạng “lựa chọn ngược”, chỉ những người bị bệnh mới tham gia bảo hiểm y tế, không phù hợp với ý nghĩa chia sẻ rủi ro của bảo hiểm y tế, ảnh hưởng đến tính bền vững của quỹ bảo hiểm y tế.
  • Lực lượng công an thuộc đối tượng có trách nhiệm tham gia bảo hiểm y tế theo quy định của Luật bảo hiểm y tế nhưng đến nay vẫn chưa tham gia bảo hiểm y tế.

Thứ hai, về phạm vi quyền lợi và mức hưởng bảo hiểm y tế

  • Việc quy định mức cùng chi trả 5% đối với một số nhóm đối tượng như người nghèo, người dân tộc thiểu số, người thuộc diện bảo trợ xã hội và 20% đối với thân nhân người có công, người thuộc hộ cận nghèo tại Điều 22 đã hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và khả năng chi trả của người bệnh, nhất là những người mắc các bệnh nặng, bệnh mạn tính (chạy thận nhân tạo chu kỳ, ung thư, bệnh nội tiết, phẫu thuật tim mạch…) do không có khả năng chi trả cũng như tính phức tạp trong việc tổ chức thực hiện.
  • Một số dịch vụ không thuộc phạm vi thanh toán bảo hiểm y tế quy định tại Điều 23 còn chưa hợp lý như: quỹ bảo hiểm y tế không thanh toán đối với trẻ em bị cận thị, tật khúc xạ của mắt nặng cần can thiệp, điều trị; một số quy định rất khó thực hiện trong thực tế như quy định về thanh toán bảo hiểm y tế đối với tai nạn giao thông do thủ tục, thời gian xác định có vi phạm pháp luật hay không nên ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế.
  • Việc quy định cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh không có giới hạn đã làm hạn chế việc tiếp cận dịch vụ của các trường hợp mắc bệnh phải điều trị có chi phí khám bệnh, chữa bệnh lớn (ung thư, chạy thận nhân tạo…).
  • Việc quy định quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế trực tiếp cho người có thẻ bảo hiểm y tế trong các trường hợp khám bệnh, chữa bệnh trái tuyến, vượt tuyến đã gây khó khăn cho cơ quan Bảo hiểm xã hội, bệnh viện và cả người bệnh.

Thứ ba, về tạm ứng, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế. Các quy định về thời gian, thời điểm trong việc tạm ứng, thanh quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh giữa Tổ chức bảo hiểm y tế với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại Điều 32 của Luật bảo hiểm y tế chưa hợp lý, chưa cụ thể đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và quyền lợi của người bệnh.

  • Quy định tạm ứng trên cơ sở “chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế thực tế của quý trước đã được quyết toán” chưa rõ là quý trước liền kề hay quý đã được quyết toán gần nhất, dẫn đến tình trạng chậm tạm ứng, chậm thanh, quyết toán năm và thông báo kết quả thẩm định chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế như­ hiện nay (tháng 10 năm sau mới thông báo quyết toán của năm trước) ảnh hưởng đến hoạt động của các bệnh viện, nhất là đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có vượt quỹ.

Thứ tư, về quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế

Khoản 2 Điều 35 quy định phân cấp quản lý quỹ bảo hiểm y tế cho các địa phương chưa rõ ràng, chưa gắn trách nhiệm của địa phương trong quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế , chưa quy định cụ thể thứ tự ưu tiên trong việc trích lập quỹ dự phòng và phân bổ, sử dụng phần kết dư quỹ bảo hiểm y tế của các địa phương nên trong 3 năm 2010-2012 chưa xử lý được phần kết dư theo quy định của Luật.

Thứ năm, về quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện bảo hiểm y tế

Luật bảo hiểm y tế hiện hành quy định Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế tại địa phương, nhưng trên thực tế, Ủy ban nhân dân các cấp, nhất là cấp huyện và xã chưa rõ trách nhiệm trong việc rà soát, quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm y tế trên địa bàn dẫn tới tình trạng cấp trùng thẻ hoặc bỏ sót đối tượng. Một số địa phương chưa thực sự quan tâm chỉ đạo công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế, chỉ đạo phát triển bảo hiểm y tế và thực hiện mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân.

Thứ sáu, một số nội dung khác phát sinh từ thực tiễn đòi hỏi cần phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

         Những khó khăn, vướng mắc trên đây cho thấy tính cấp thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế .

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG LUẬT.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế được xây dựng trên cơ sở bốn quan điểm chỉ đạo sau đây:

  1. Thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng về phát triển bảo hiểm y tế toàn dân đã được định h­ướng của Nghị quyết Đại hội Đảng XI, Nghị quyết số 15–NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020; Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020; Quyết định số 538/QĐ/TTg ngày 29/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2012 -2015 và 2020.
  2. Khắc phục đ­ược các tồn tại, bất hợp lý sau 3 năm thực hiện Luật để từng bước thực hiện lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân, bảo đảm quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế.
  3. Đổi mới chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế trên cơ sở có kế thừa chọn lọc những quy định hiện hành về chính sách bảo hiểm y tế đang phát huy hiệu quả trong thực tiễn, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của nước ta.
  4. Phù hợp với các quy định tại các luật có liên quan như Luật khám bệnh, chữa bệnh, Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng… để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, bảo đảm lồng ghép giới trong Luật.

III.  BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ NĂM 2014

Phạm vi điều chỉnh, bố cục của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế vẫn giữ nguyên như Luật bảo hiểm y tế hiện hành, không bổ sung thêm chương, điều mới.

Luật sửa đổi, bổ sung 28/52 điều từ Chương I đến Chương IX, trong đó tập trung sửa đổi, bổ sung các nội dung liên quan đến: Sắp xếp lại nhóm đối tượng; hình thức tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình; thẻ bảo hiểm y tế ; mức hưởng bảo hiểm y tế ; tạm ứng, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế; quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế, trách nhiệm của các bên liên quan đến bảo hiểm y tế.

Tiếp tục khẳng định chính sách bảo hiểm y tế toàn dân, quy định bảo hiểm y tế là bảo hiểm bắt buộc và khuyến khích việc thực hiện bảo hiểm y tế theo hộ gia đình, đây là những quy định quan trọng nhằm thúc đẩy thực hiện lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân. Một số điểm mới được sửa đổi, bổ sung so với Luật hiện hành như sau:

  1. Sửa đổi Điều 2, 3, 6, 7 và Điều 8 Chương I: Những quy định chung
  2. a) Về giải thích từ ngữ (Điều 2)

– Sửa đổi quy định các đối tượng “có trách nhiệm tham gia bảo hiểm y tế” thành “Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện”.

Luật bảo hiểm y tế hiện hành đang quy định các đối tượng có “trách nhiệm” tham gia bảo hiểm y tế nhưng trên thực tế việc tuân thủ pháp luật của các đối tượng này chưa cao, đến hết năm 2012, trong số đối tượng “có trách nhiệm” tham gia bảo hiểm y tế vẫn còn khoảng 45% người lao động trong các doanh nghiệp (70% lao động trong doanh nghiệp tư nhân), gần 70% người thuộc hộ cận nghèo, 20% học sinh, sinh viên chưa tham gia bảo hiểm y tế. Để thực hiện được mục tiêu này thì cần phải quy định bắt buộc tham gia đối với tất cả các đối tượng. Nếu không quy định bắt buộc thì sẽ có nhiều nhóm đối tượng, nhất là các đối tượng khỏe mạnh, có thu nhập cao sẽ không tham gia và như vậy không giải quyết được tình trạng “lựa chọn ngược” chỉ có người ốm mới tham gia bảo hiểm y tế, gây nguy cơ mất cân đối quỹ bảo hiểm y tế, ảnh hưởng đến tính bền vững của bảo hiểm y tế.

Đây là một trong những giải pháp đột phá hết sức quan trọng thể hiện quyết tâm chính trị nhằm khẳng định mọi đối tượng bắt buộc phải tham gia bảo hiểm y tế, nhằm thúc đẩy thực hiện mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân theo tinh thần của Hiến pháp 2013 và Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị. Để bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế, Nhà nước sử dụng cơ chế hỗ trợ ngân sách trực tiếp cho một bộ phận người dân tham gia bảo hiểm y tế, cũng như cơ chế chính sách về giá dịch vụ y tế để thúc đẩy toàn dân tham gia bảo hiểm y tế.

– Bổ sung khái niệm “Hộ gia đình tham gia bảo hiểm y tế là bao gồm toàn bộ người có tên trong sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú để thực hiện hình thức tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình với một số nhóm đối tượng. Quy định này giúp cho việc đăng ký, quản lý các nhóm đối tượng thống nhất, không bỏ sót và tránh được cấp trùng thẻ bảo hiểm y tế, hạn chế tình trạng chỉ có người ốm mới tham gia bảo hiểm y tế và  bảo đảm sự chia sẻ ngay trong hộ gia đình.

– Bổ sung khái niệm Gói dịch vụ y tế cơ bản do quỹ bảo hiểm y tế chi trả là những dịch vụ y tế thiết yếu để chăm sóc sức khỏe, phù hợp với khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm y tế.

  1. b) Sửa đổi quy định mức đóng bảo hiểm y tế theo “mức lương tối thiểu của khu vực hành chính (gọi chung là mức lương tối thiểu)” thành “mức lương cơ sở” và bổ sung quy định mức hưởng bảo hiểm y tế được xác định theo thời gian tham gia bảo hiểm y tế để khuyến khích người dân tham gia bảo hiểm y tế liên tục (Điều 3), cụ thể:

“2. Mức đóng bảo hiểm y tế được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội (sau đây gọi chung là tiền lương tháng), tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương cơ sở.

  1. Mức hưởng bảo hiểm y tế theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi và thời gian tham gia bảo hiểm y tế.”
  2. c) Bổ sung trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan và Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc tổ chức thực hiện Luật (Điều 6, 7):

– Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo: Chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện việc xác định, quản lý đối tượng; Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy định của pháp luật về trách nhiệm tham gia bảo hiểm y tế của các đối tượng thuộc thẩm quyền quản lý

– Bộ Quốc phòng và Bộ Công an:

(1) Chỉ đạo, quản lý, hướng dẫn, tổ chức thực hiện việc xác định, quản lý, lập danh sách bảo hiểm y tế đối với đối tượng do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an quản lý;

(2) Lập danh sách và cung cấp danh sách đề nghị cấp thẻ bảo hiểm y tế đối với đối tượng thân nhân;

(3) Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy định của pháp luật về trách nhiệm tham gia bảo hiểm y tế của các đối tượng do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an quản lý;

(4) Phối hợp với Bộ Y tế, các bộ, ngành liên quan hướng dẫn các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an ký kết hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế với tổ chức bảo hiểm y tế để khám bệnh, chữa bệnh cho các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế.

– Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo xây dựng bộ máy, nhân lực, nguồn lực để thực hiện chức năng tham mưu quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế trên địa bàn; Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm lập danh sách đối tượng tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình trên địa bàn để thống nhất quản lý, tránh trùng thẻ bảo hiểm y tế.

  1. Sửa đổi Điều 12, 13, 14 và Điều 15 Chương II: Đối tượng, mức đóng, trách nhiệm và phương thức đóng bảo hiểm y tế
  2. a) Về đối tượng tham gia bảo hiểm y tế (Điều 12)

– Để thuận lợi trong quản lý và tổ chức thực hiện, Luật sửa đổi bổ sung đã sắp xếp lại 25 đối tượng quy định tại Điều 12 của Luật hiện hành thành 5 nhóm theo trách nhiệm đóng bảo hiểm y tế như sau:

(1) Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng;

(2) Nhóm do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng;

(3) Nhóm do ngân sách nhà nước đóng;

(4) Nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần mức đóng;

(5) Nhóm tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình gồm những người thuộc hộ gia đình, trừ đối tượng quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 nêu trên.

– Gộp các đối tượng: Người làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp (khoản 22); Thân nhân người lao động (khoản 23) và Xã viên hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể (khoản 24) của Điều 12 Luật bảo hiểm y tế hiện hành thành 01 nhóm đối tượng “Người tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình” thuộc nhóm tự đóng bảo hiểm y tế và cùng tham gia bảo hiểm y tế theo hình thức hộ gia đình.

– Bổ sung một số nhóm đối tượng được tổ chức bảo hiểm xã hội đóng bảo hiểm y tế đó là người mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày, người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng;

– Bổ sung một số nhóm đối tượng được ngân sách nhà nước đóng bảo hiểm y tế đó là: người đang tại ngũ trong quân đội; thân nhân của học viên công an và học viên cơ yếu; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo.

– Bổ sung đối tượng tham gia bảo hiểm y tế đã được quy định tham gia bảo hiểm y tế tại các văn bản khác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bao gồm: người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; người đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng; thanh niên xung phong thời kỳ kháng chiến chống Pháp; người tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia giúp nước bạn Lào sau 30/4/1975 đã xuất ngũ phục viên[1].

– Bổ sung đối tượng thuộc lực lượng công an và quân đội cùng tham gia hệ thống bảo hiểm y tế. Đồng thời giao Chính phủ quy định cụ thể: Việc cấp thẻ bảo hiểm y tế; lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế, phạm vi quyền lợi, mức hưởng bảo hiểm y tế, khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, quản lý, sử dụng phần kinh phí dành cho khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, giám định bảo hiểm y tế, thanh toán, quyết toán bảo hiểm y tế đối với các đối tượng do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý.

  1. b) Về mức đóng, trách nhiệm và phương thức đóng bảo hiểm y tế (Điều 13 và Điều 15).

– Bổ sung trách nhiệm đóng bảo hiểm y tế của quỹ bảo hiểm xã hội đối với người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con hoặc nuôi con dưới 6 tháng tuổi, người lao động mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

– Sửa đổi, bổ sung quy định giảm dần mức đóng bảo hiểm y tế khi toàn bộ các thành viên trong hộ gia đình tham gia bảo hiểm y tế [2], cụ thể:

+ Người thứ nhất đóng bằng mức quy định; người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất;

+ Từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất.

– Bổ sung quy định phương thức đóng bảo hiểm y tế theo hộ gia đình để dễ quản lý, tránh trùng lắp đối tượng, tránh bỏ sót đối tượng và mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế.

  1. Sửa đổi Điều 16, 17, 18 và Điều 20 Chương III: Thẻ bảo hiểm y tế
  2. a) Bổ sung quy định thời hạn sử dụng Thẻ bảo hiểm y tế đối với trẻ em dưới 6 tuổi: Trường hợp trẻ đủ 72 tháng tuổi mà chưa đến kỳ nhập học thì thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng đến ngày 30 tháng 9 của năm đó để khắc phục tình trạng Trẻ em không có thẻ BHYT trong giai đoạn chưa đi học. Giao Tổ chức bảo hiểm y tế ban hành mẫu thẻ bảo hiểm y tế sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Y tế, cụ thể:

“a) Đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 12 của Luật này tham gia bảo hiểm y tế lần đầu, thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng kể từ ngày đóng bảo hiểm y tế;

  1. b) Người tham gia bảo hiểm y tế liên tục kể từ lần thứ hai trở đi thì thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng nối tiếp với ngày hết hạn sử dụng của thẻ lần trước;
  2. c) Đối tượng quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 12 của Luật này tham gia bảo hiểm y tế từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành hoặc tham gia không liên tục từ 3 tháng trở lên trong năm tài chính thì thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng sau 30 ngày, kể từ ngày đóng bảo hiểm y tế;
  3. d) Đối với trẻ em dưới 6 tuổi thì thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng đến ngày trẻ đủ 72 tháng tuổi. Trường hợp trẻ đủ 72 tháng tuổi mà chưa đến kỳ nhập học thì thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng đến ngày 30 tháng 9 của năm đó.”

“5. Tổ chức bảo hiểm y tế ban hành mẫu thẻ bảo hiểm y tế sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Y tế.”

  1. b) Quy định trách nhiệm lập danh sách cấp thẻ bảo hiểm y tế: Để gắn trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã, của tổ chức bảo hiểm y tế trong thực hiện bảo hiểm y tế và trách nhiệm tham gia bảo hiểm y tế của hộ gia đình trong việc kê khai, lập danh sách, rà soát các đối tượng để tránh tình trạng trùng thẻ, bỏ sót đối tượng, Luật quy định cụ thể trách nhiệm lập danh sách để cấp thẻ bảo hiểm y tế như sau:

–  Người sử dụng lao động lập danh sách người lao động

– Ủy ban nhân dân cấp xã lập danh sách của các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình.

–  Cơ sở giáo dục và đào tạo, cơ sở dạy nghề lập danh sách Học sinh sinh viên do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quản lý

–  Bộ Quốc phòng và Bộ Công an lập danh sách các đối tượng do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý

  1. c) Để không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế, khoản 3 Điều 18 quy định: “Trong thời gian chờ cấp lại thẻ, người tham gia bảo hiểm y tế vẫn được hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế”.
  2. Sửa đổi Điều 21, 22 và Điều 23 Chương IV: Phạm vi, mức hưởng bảo hiểm y tế

Luật sửa đổi bổ sung lần này quan tâm nhiều hơn đến quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế: Mở rộng phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế và điều chỉnh mức hưởng bảo hiểm y tế nhằm giảm gánh nặng chi phí khám chữa bệnh, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế đối với một số đối tượng chính sách:

  1. Mở rộng quyền lợi về bảo hiểm y tế

– Bổ sung quyền lợi trong điều trị lác, cận thị và tật khúc xạ của mắt đối với trẻ em dưới 6 tuổi.

– Bổ sung quy định quỹ bảo hiểm y tế thanh toán trong các trường hợp tự tử, tự gây thương tích, tai nạn giao thông, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho phù hợp với Bộ Luật Lao động.

– Sửa đổi quy định đối tượng được thanh toán chi phí vận chuyển thống nhất với đối tượng được hưởng 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, bao gồm: Người có công với cách mạng; trẻ em dưới 6 tuổi; người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng; Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo.

  1. b) Bỏ quy định cùng chi trả; nâng mức hưởng bảo hiểm y tế

– Bỏ quy định cùng chi trả 5% đối với người nghèo, bảo trợ xã hội, người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.

– Bỏ quy định cùng chi trả 20% đối với thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ, người có công nuôi dưỡng liệt sỹ;

– Giảm mức cùng chi trả từ 20% xuống còn 5% với thân nhân khác của người có công và người thuộc hộ gia đình cận nghèo.

– Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 100% chi phí khám chữa bệnh đối với Người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo.

– Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 100% chi phí khám chữa bệnh khi người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở.

  1. c) Bổ sung quy định cụ thể mức hưởng bảo hiểm y tế trong trường hợp người có thẻ bảo hiểm y tế tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến[3] và được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán theo mức hưởng quy định với tỷ lệ như sau:

– Tại bệnh viện tuyến trung ương là 40% chi phí điều trị nội trú;

– Tại bệnh viện tuyến tỉnh là 60% chi phí điều trị nội trú từ ngày Luật này có hiệu lực đến ngày 31 tháng 12 năm 2020; 100% chi phí điều trị nội trú từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 trong phạm vi cả nước;

– Tại bệnh viện tuyến huyện là 70% chi phí khám bệnh, chữa bệnh từ ngày Luật này có hiệu lực đến ngày 31 tháng 12 năm 2015; 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh từ ngày 01 tháng 01 năm 2016.

  1. d) Về chuyển tuyến khám chữa bệnh và thanh toán khám chữa bệnh bảo hiểm y tế

Theo quy định hiện hành, người tham gia bảo hiểm y tế có quyền đăng ký khám chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu tại bất kỳ cơ sở khám chữa bệnh tuyến xã, huyện hoặc tương đương trong phạm vi cả nước. Trường hợp cấp cứu, người bệnh có thể đến bất kỳ cơ sở y tế nào để khám chữa bệnh và được quỹ bảo hiểm y tế chi trả; các trường hợp không phải cấp cứu thì sẽ theo tuyến chuyên môn kỹ thuật y tế và đều được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám chữa bệnh theo quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế.

Để giảm bớt phiền hà khi chuyển tuyến theo cấp hành chính, cụ thể hóa khoản 1 Điều 38 của Hiến pháp là “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh”, Luật đã sửa đổi, bổ sung  quy định liên quan đến mở tuyến khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại Khoản 4,5 và 6 Điều 22 Luật bảo hiểm y tế (sửa đổi), cụ thể:

– Từ ngày 01/01/2016, người tham gia bảo hiểm y tế đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu tại trạm y tế tuyến xã hoặc phòng khám đa khoa hoặc bệnh viện tuyến huyện được quyền khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại trạm y tế tuyến xã hoặc phòng khám đa khoa hoặc bệnh viện tuyến huyện trong cùng địa bàn tỉnh và được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán theo mức hưởng theo quy định của Luật.

– Người dân tộc thiểu số và người thuộc hộ gia đình nghèo tham gia bảo hiểm y tế đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; người tham gia bảo hiểm y tế đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo khi tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với bệnh viện tuyến huyện, điều trị nội trú đối với bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến trung ương và có mức hưởng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

– Từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, mở thông tuyến tỉnh trên toàn quốc và riêng đối với tuyến trung ương thì nâng mức hưởng lên 40% đối với trường hợp điều trị nội trú; tuyến tỉnh là 60% chi phí điều trị nội trú từ ngày Luật này có hiệu lực đến ngày 31/12/2020 và được hưởng 100% chi phí điều trị nội trú kể từ ngày 01/01/2021

Trên cơ sở này, vấn đề thông tuyến khám chữa bệnh như trên đang từng bước được cải thiện để phù hợp với nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, bước đi này nằm trong lộ trình tiến đến bảo đảm việc tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của người bệnh không theo tuyến như mong muốn của người dân khi tham gia bảo hiểm y tế.

  1. Sửa đổi Điều 24 Chương V: Tổ chức khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Để thuận lợi trong tổ chức thực hiện, phù hợp và đồng bộ với Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật quy định: “Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế là cơ sở y tế theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh có ký kết hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh với tổ chức bảo hiểm y tế.”

Theo đó, các hình thức tổ chức của cơ sở khám chữa bệnh kể cả cơ sở khám chữa bệnh nhà nước và tư nhân theo quy định của Điều 41 Luật Khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện đều được tổ chức khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế

  1. Sửa đổi Điều 30, 31 và Điều 32 Chương VI: Thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế
  2. a) Bãi bỏ quy định tổ chức BHYT thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT trực tiếp cho người có thẻ BHYT trong trường hợp khám bệnh, chữa bệnh không đúng nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu, không đúng tuyến điều trị để hạn chế việc thanh toán trực tiếp nhằm giảm phiền hà cho người bệnh, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và tổ chức bảo hiểm y tế, tiết kiệm cho bệnh viện thời gian tìm hồ sơ đã lưu trữ để cung cấp cho cơ quan bảo hiểm xã hội làm công tác giám định trong điều kiện nhân lực giám định còn thiếu.

Khoản 2 Điều 31 của Luật sửa đổi bổ sung quy định: Chỉ thanh toán trực tiếp trong các trường hợp:

– Tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không có hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế;

–  Khám bệnh, chữa bệnh không có đủ thủ tục theo quy định ( Thẻ BHYT, Hồ sơ chuyển viện, giấy hẹn tái khám…)

–  Một số trường hợp đặc biệt khác do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định

  1. b) Bãi bỏ quy định thanh toán đối với trường hợp khám bệnh, chữa bệnh tại nước ngoài vì thực tế rất khó kiểm soát chi phí và không khuyến khích việc khám bệnh, chữa bệnh ở nước ngoài trong điều kiện quỹ BHYT còn hạn hẹp.
  2. c) Bổ sung quy định Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh BHYT giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc để tránh tình trạng giá dịch vụ y tế do nhiều cơ quan, đơn vị khác nhau phê duyệt với nhiều mức giá khác nhau, thời điểm áp dụng khác nhau, kể cả bệnh viện cùng một hạng, trên cùng địa bàn gây mất công bằng cho người bệnh, bệnh viện và gây khó khăn cho tổ chức BHYT trong tổ chức thực hiện
  3. d) Quy định chi tiết việc tạm ứng, thanh toán, quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế (Điều 32).

–  Sửa đổi quy định việc tạm ứng chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT dựa trên số chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT thực tế quý trước đã được “quyết toán” thành “báo cáo quyết toán quý trước của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh gửi cho tổ chức BHYT” để tổ chức BHYT có căn cứ tạm ứng ngay, thay vì phải chờ đến khi có kết quả thẩm định, quyết toán của tổ chức BHYT như quy định hiện hành.

–  Quy định chi tiết về thời điểm thanh toán, quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giảm thời gian thực hiện thanh toán, quyết toán quý từ 75 ngày  xuống còn 55 ngày, cụ thể:

+ Trong thời hạn 15 ngày đầu mỗi tháng, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế có trách nhiệm gửi bản tổng hợp đề nghị thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế của tháng trước cho tổ chức bảo hiểm y tế;

+ Trong thời hạn 15 ngày đầu mỗi quý, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế có trách nhiệm gửi báo cáo quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế của quý trước cho tổ chức bảo hiểm y tế;

+ Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo quyết toán quý trước của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, tổ chức bảo hiểm y tế có trách nhiệm thông báo kết quả giám định và số quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế bao gồm chi phí khám bệnh, chữa bệnh thực tế trong phạm vi quyền lợi và mức hưởng bảo hiểm y tế cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

+ Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày thông báo số quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, tổ chức bảo hiểm y tế phải hoàn thành việc thanh toán với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

+  Việc thẩm định quyết toán năm đối với quỹ bảo hiểm y tế và thanh toán số kinh phí chưa sử dụng hết (nếu có) đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải được thực hiện trước ngày 01 tháng 10 năm sau.

  1. Sửa đổi Điều 34 và Điều 35 Chương VII: Quỹ bảo hiểm y tế
  2. a) Sửa đổi, bổ sung Khoản 1 và Khoản 3 Điều 34 như sau:

– Bổ sung quy định: “Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội Việt Nam theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội chịu trách nhiệm quản lý quỹ bảo hiểm y tế và tư vấn chính sách bảo hiểm y tế”. Theo quy định này, Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội Việt Nam được thành lập theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội có chức năng: Xem xét, tư vấn quyết định những vấn đề lớn liên quan đến bảo hiểm y tế như: mức đóng bảo hiểm y tế, phạm vi quyền lợi, giá dịch vụ kỹ thuật, danh mục dịch vụ kỹ thuật, danh mục thuốc, vật tư y tế, cơ chế thanh toán chi phí khám, chữa bệnh giữa quỹ bảo hiểm y tế và cơ sở khám, chữa bệnh….. Bộ trưởng Bộ Y tế quyết định ban hành chính sách trên cơ sở đề xuất và ý kiến thống nhất của Hội đồng.

– Hằng năm, Chính phủ báo cáo trước Quốc hội về quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế.

  1. b) Về phân bổ và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế:

Luật vẫn thống nhất nguyên tắc Quỹ phải quản lý tập trung, thống nhất ở cấp quốc gia để tập trung nguồn lực, điều tiết chung trong phạm vi cả nước, đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu chia sẻ rủi ro giữa các đối tượng.

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, do chưa có sự đồng đều về tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế và dịch vụ khám chữa bệnh giữa các tỉnh (có nơi đạt gần 100%, nhưng có tỉnh mới đạt 50-60% dân số tham gia bảo hiểm y tế, có tỉnh đầy đủ kỹ thuật y tế hiện đại nhưng có tỉnh còn thiếu nhiều trang thiết bị y tế, điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế của người dân nhất là vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa còn hạn chế; có nơi kết dư, có nơi còn bội chi quỹ bảo hiểm y tế) nên Luật quy định cho phép các tỉnh thành có kết dư quỹ bảo hiểm y tế được sử dụng một phần để phục vụ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế hỗ trợ nâng cao quyền lợi người tham gia bảo hiểm y tế, để gắn trách nhiệm của các địa phương trong việc tổ chức thực hiện bảo hiểm y tế, khuyến khích các địa phương quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế minh bạch, hiệu quả, thực hiện cụ thể như sau:

– Đối với các tỉnh, thành phố có phần kinh phí chưa sử dụng hết:

+ Từ ngày Luật này có hiệu lực đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2020 thì 80% chuyển về quỹ dự phòng, 20% chuyển về địa phương để sử dụng theo thứ tự ưu tiên sau đây:

Hỗ trợ quỹ khám bệnh, chữa bệnh cho người nghèo; hỗ trợ mức đóng bảo hiểm y tế cho một số nhóm đối tượng phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương; mua trang thiết bị y tế phù hợp với năng lực, trình độ của cán bộ y tế; mua phương tiện vận chuyển người bệnh ở tuyến huyện.

Trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày Bảo hiểm xã hội Việt Nam thẩm định quyết toán, Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải chuyển 20% phần kinh phí chưa sử dụng hết về cho địa phương.

Trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày Bảo hiểm xã hội Việt Nam thẩm định quyết toán, phần kinh phí chưa sử dụng hết được chuyển về quỹ dự phòng để điều tiết chung.

+  Từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, phần kinh phí chưa sử dụng hết không phân bổ cho các địa phương sử dụng mà được hạch toán toàn bộ vào quỹ dự phòng để quản lý tập trung, thống nhất và điều tiết chung trong phạm vi cả nước.

– Đối với các tỉnh, thành phố có bội chi quỹ:

Sau khi thẩm định quyết toán, Bảo hiểm xã hội Việt Nam có trách nhiệm bổ sung toàn bộ phần kinh phí chênh lệch này từ nguồn quỹ dự phòng.

  1. Sửa đổi Điều 36, 41, 43 và Điều 45 Chương VIII: Quyền và trách nhiệm của các bên liên quan đến bảo hiểm y tế
  2. a) Điều 36. Bổ sung quyền của người tham gia bảo hiểm y tế, được đóng bảo hiểm y tế theo hộ gia đình tại đại lý bảo hiểm y tế trong phạm vi cả nước; được lựa chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 26 của Luật này
  3. b) Điều 41. Bổ sung quy định tổ chức bảo hiểm y tế có trách nhiệm:

– Tổ chức để đối tượng quy định của Luật này đóng bảo hiểm y tế theo hộ gia đình thuận lợi tại đại lý bảo hiểm y tế. Hướng dẫn hồ sơ, thủ tục, nơi đăng ký tham gia bảo hiểm y tế và tổ chức thực hiện chế độ bảo hiểm y tế, bảo đảm nhanh chóng, đơn giản và thuận tiện cho người tham gia bảo hiểm y tế. Rà soát, tổng hợp, xác nhận danh sách tham gia bảo hiểm y tế để tránh cấp trùng thẻ bảo hiểm y tế của các đối tượng quy định tại Điều 12 của Luật này, trừ các đối tượng do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an quản lý.

– Lưu trữ hồ sơ, số liệu về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật; xác định thời gian tham gia bảo hiểm y tế để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm y tế; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bảo hiểm y tế, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm y tế.

  1. c) Điều 43. Bổ sung quy định trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế trong việc:

– Cung cấp hồ sơ bệnh án, tài liệu liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh của người tham gia bảo hiểm y tế theo yêu cầu của tổ chức bảo hiểm y tế và cơ quan nhà nước có thẩm quyền; đối với hồ sơ đề nghị thanh toán trực tiếp, trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của tổ chức bảo hiểm y tế, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế có trách nhiệm cung cấp hồ sơ bệnh án, tài liệu liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh của người tham gia bảo hiểm y tế.

– Lập bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, chính xác của bảng kê này.

– Cung cấp bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế khi có yêu cầu.

  1. d) Điều 45 Bổ sung quy định trách nhiệm của tổ chức đại diện người lao động và tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong việc: Tham gia giám sát việc thi hành pháp luật về bảo hiểm y tế, đôn đốc người sử dụng lao động đóng bảo hiểm y tế cho người lao động và tham gia giải quyết các trường hợp trốn đóng, nợ đóng bảo hiểm y tế.
  2. Sửa đổi Điều 49 Chương IX: Thanh tra, khiếu nại, tố cáo, giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm về bảo hiểm y tế

Luật đã được sửa đổi, bổ sung với chế tài mạnh mẽ hơn đối với cơ quan, tổ chức không đóng, chậm đóng bảo hiểm y tế cho người lao động, cụ thể:

– Cơ quan, tổ chức không đóng, chậm đóng bảo hiểm y tế cho người lao động phải đóng đủ số tiền chưa đóng và nộp số tiền lãi bằng hai lần mức lãi suất liên ngân hàng tính trên số tiền và thời gian chậm đóng; nếu không thực hiện thì theo yêu cầu của người có thẩm quyền, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước có trách nhiệm trích tiền từ tài khoản tiền gửi của cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng bảo hiểm y tế để nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng và lãi của số tiền này vào tài khoản của quỹ bảo hiểm y tế;

– Phải hoàn trả toàn bộ chi phí cho người lao động trong phạm vi quyền lợi, mức hưởng bảo hiểm y tế mà người lao động đã chi trả trong thời gian chưa có thẻ bảo hiểm y tế .

  1. TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ TRONG QĐND VIỆT NAM
  2. Triển khai xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.

Luật Bảo hiểm y tế có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Để triển khai thực hiện Luật, Chính phủ có trách nhiệm ban hành Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế áp dụng đối với quân nhân, Công an nhân dân và học sinh cơ yếu; các Bộ, nghành trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Luật. Trong đó, Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, nghành liên quan soạn thảo Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm y tế đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu; Thông tư liên tịch của Bộ Quốc phòng – Bộ Y tế – Bộ Tài chính để hướng dẫn thực hiện các nội dung của hai Nghị định của Chính phủ về  bảo hiểm y tế có liên quan đến các đối tượng thuộc Bộ Quốc phòng quản lý.

  1. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật Bảo hiểm y tế và các các quy định liên quan

Luật Bảo hiểm y tế là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao, tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội nói chung, quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng, vì vậy, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần phải nhận thức đúng vị trí, tầm quan trọng của Luật; khẩn trương tổ chức triển khai tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật Bảo hiểm y tế và các quy định liên quan đến quân nhân, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị mình để họ nắm chắc và tự giác chấp hành quy định của Luật và văn bản có liên quan[4]. Đồng thời phải nghiêm túc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế một cách nghiêm túc, hiệu quả thiết thực; làm tốt các mặt công tác chuẩn bị, sẵn sàng triển khai cho đơn vị thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh theo hình thức bảo hiểm y tế.

Mỗi quân nhân, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng, nêu cao tinh thần tự giác nghiên cứu, học tập và tham gia các hoạt động phổ biến, tuyên truyền vè bảo hiểm y tế do đơn vị tổ chức. Nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của quân đội và của đơn vị về việc quân nhân tham gia bảo hiểm y tế./.

 

 

KẾT LUẬN

BHXH, BHYT là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, liên quan đến quyền lợi, sức khỏe, bảo đảm an toàn và chất lượng cuộc sống trọn đời của người tham gia, góp phần thực hiện công bằng xã hội, giữ vững ổn định chính trị – xã hội. Tiếp tục thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, khắc phục những hạn chế, bất cập, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT tại Kỳ họp thứ 7, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 và thông qua Luật BHXH (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ 8 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016. Để các quan điểm, chủ trương của Đảng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật BHYT, Luật BHXH (sửa đổi) nhanh chóng đi vào cuộc sống. Với mục đích giúp cán bộ, đảng viên và người lao động hiểu rõ các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với công tác BHXH, BHYT trong tình hình mới và mục tiêu BHXH cho mọi người lao động, BHYT toàn dân; Trong hội nghị học tập phổ biến GDPL của chúng ta hôm nay các đồng chí cần nghiêm túc học hỏi, với tinh thần cầu thị cao nhất để buổi học của chúng ta đạt được kết quả tốt nhất.

Từ đó các đồng chí cần nắm được mục tiêu, ý nghĩa và quá trình sửa đổi, bổ sung Luật BHYT năm 2014. Bên cạnh đó, góp phần nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm của cá nhân, các cấp ủy đảng chi bộ, các tổ chức chính trị – xã hội, các cơ quan, đơn vị trong việc triển khai thực hiện chính sách BHXH, BHYT; qua đó tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện tốt chủ trương, chính sách BHXH, BHYT, góp phần đẩy nhanh lộ trình tiến tới BHXH cho mọi người lao động. Và thực hiện đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về BHYT, BHXH; các hoạt động lợi dụng việc thông qua Luật BHXH (sửa đổi) để kích động, lôi kéo người dân, nhất là công nhân ngừng việc tập thể, đình công gây ảnh hưởng đến sản xuất, kinh

[1] http://www.moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=24606

[2] Luật BHYT hiện hành đang quy định: Người thứ nhất đóng bằng mức quy định; người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 90%, 80%, 70% mức đóng của người thứ nhất; từ người thứ năm trở đi đóng bằng 60% mức đóng của người thứ nhất

 

[3] Luật BHYT hiện hành đang quy định quỹ BHYT thanh toán 30%, 50%, 70% chi phí KCB cả nội trú và ngoại trú theo hạng bệnh viện khi KCB không đúng tuyến

[4] Tài liệu : Quán triệt và triển khai thực hiện Luật Cư trú trong quân đội nhân dân Việt Nam, NXb. QĐND, H.2015.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*