Luật về phòng chống tham nhũng, lãng phí

I. MỘT SÔ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

  1. Sự cần thiết ban hành và sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống tham nhũng.

1.1. Những bất cập, hạn chế của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005.

          Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 đã tạo lập khung pháp lý quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng. Cùng với sự quyết tâm, nỗ lực của các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và cả hệ thống chính trị, công tác phòng, chống tham nhũng đã có những chuyển biến tích cực cả về nhận thức, hành động và đạt được những kết quả bước đầu. Việc thực hiện các quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức đơn vị; xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn; quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức đã phát huy tác dụng, góp phần phòng ngừa, ngăn chặn và kiềm chế tham nhũng trên một số lĩnh vực quản lý nhà nước. Tuy nhiên, qua sơ kết 05 năm triển khai thực hiện, nhiều quy định của Luật phòng, chống tham nhũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Cụ thể như sau:

– Về việc thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị: Nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước, Luật quy định còn chung chung, khó thực hiện; có lĩnh vực còn chưa quy định về công khai, minh bạch. Vì thế, tình trạng lạm dụng quy định về bí mật nhà nước để không công khai những nội dung công khai, minh bạch, nhất là trong việc xác định giá, đấu giá tài sản doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa và công khai báo cáo tài chính trong doanh nghiệp có vốn của Nhà nước; công khai việc giải phóng mặt bằng, giá bồi thường khi thu hồi đất; công khai công tác cán bộ; công khai hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kết luận thanh tra; công khai, minh bạch các quyết định trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; công khai trong ấn định mức thuế…;

– Về minh bạch tài sản, thu nhập: Công tác kê khai tài sản, thu nhập tuy đã được triển khai trên diện rộng nhưng còn hình thức, tác dụng phòng ngừa tham nhũng còn hạn chế, hiệu quả thấp. Các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập của Luật chưa giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo dõi được những biến động về tài sản của người có nghĩa vụ kê khai để từ đó áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm phòng ngừa, phát hiện tham nhũng. Bên cạnh đó, việc xác minh tài sản, thu nhập nhằm làm rõ tính trung thực của việc kê khai còn ít được thực hiện, kết quả kê khai chưa được công khai rộng rãi, chưa được sử dụng đầy đủ để tăng cường cơ chế giám sát nhằm ngăn chặn tham nhũng;

– Về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị: Việc xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều nơi còn tình trạng nhầm lẫn giữa việc xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng và khi họ trực tiếp hoặc liên đới thực hiện hành vi tham nhũng. Nhiều trường hợp, người có thẩm quyền còn nể nang, né tránh trong việc xử lý đối với người đứng đầu. Bên cạnh đó, trình tự, thủ tục và thẩm quyền xử lý trách nhiệm người đứng đầu cũng còn nhiều vướng mắc trên thực tế. Kết quả sơ kết cũng phản ánh số vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện và xử lý qua công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán còn ít, cá biệt có một số địa phương không phát hiện được vụ việc nào.

1.2. Việc xây dựng dự án Luật nhằm thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng về phòng, chống tham nhũng.

– Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” đã đưa ra nhiều giải pháp quan trọng về phòng, chống tham nhũng, như: thực hiện nghiêm quy định về xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng nghiêm trọng; về miễn nhiệm, bãi nhiệm, cho từ chức, tạm đình chỉ chức vụ người có dấu hiệu tham nhũng để thanh tra, kiểm tra, điều tra; giải trình nguồn gốc tài sản khi có yêu cầu…;

– Kết luận số 21-KL/TW ngày 12/5/2012 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X cũng đưa ra các giải pháp cụ thể về phòng, chống tham nhũng, như: tăng cường công khai, minh bạch trong các khâu quy hoạch, thu hồi, bồi thường, giao đất, cho thuê đất, định giá, đấu giá quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên, khoáng sản; tăng cường công khai, minh bạch về tài chính của các doanh nghiệp của Nhà nước, trong hoạt động tín dụng, đầu tư xây dựng; thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ, nhất là trong các khâu tuyển dụng, quy hoạch, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật…; thực hiện nghiêm các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức, công khai bản kê khai tài sản, thu nhập ở nơi công tác, nơi cư trú; từng bước mở rộng diện kê khai và phạm vi công khai kết quả kê khai tài sản, thu nhập; quy định về trách nhiệm giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm và quy định cơ quan quản lý cán bộ, công chức, viên chức chủ động kiểm tra, xác minh kết quả kê khai tài sản, thu nhập đối với những người thuộc quyền quản lý; đổi mới mô hình và tổ chức, hoạt động của cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo và cơ quan thường trực, tham mưu về công tác phòng, chống tham nhũng.

Xuất phát từ những lý do trên, việc sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật phòng, chống tham nhũng là yêu cầu khách quan và rất cần thiết.

  1. Quan điểm và nguyên tắc xây dựng luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật phòng, chống tham nhũng

Việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng dựa trên những quan điểm và nguyên tắc cơ bản sau:

  1. Sửa đổi Luật phòng, chống tham nhũng theo hướng củng cố, nâng cao hiệu quả của các quy định về phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng và coi đây là nhiệm vụ then chốt, nhất là việc đẩy mạnh công khai, minh bạch hoạt động của cơ quan nhà nước, gắn với các biện pháp nâng cao trách nhiệm giải trình của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
  2. Sửa đổi các nội dung mà qua thực tiễn công tác phòng, chống tham nhũng thấy đã rõ như: Tiếp tục đẩy mạnh, tăng cường công khai, minh bạch trong các lĩnh vực quản lý, nhất là lĩnh vực ngân sách nhà nước (bao gồm cả thu chi và phân bổ ngân sách); quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản; quản lý tập đoàn, tổng công ty nhà nước; việc tuyển dụng, bổ nhiệm, điều động, quản lý cán bộ; quy định cụ thể hơn trong việc thực hiện minh bạch tài sản, thu nhập theo hướng từng bước mở rộng diện kê khai, tăng cường công khai bản kê khai tài sản, thu nhập và trách nhiệm giải trình về nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm và một số vấn đề khác.
  3. Quán triệt và cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng, đặc biệt là các giải pháp đề ra trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) và Kết luận Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về tổ chức bộ máy, cơ quan chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng.
  4. Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của Luật này trong hệ thống pháp luật, phù hợp với những quy định của các văn bản pháp luật có liên quan, bảo đảm tính khả thi của Luật.
  5. Bố cục, nội dung cơ bản của Luật phòng, chống tham nhũng và một số văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật

Luật số 27/2012/QH13 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng có bổ sung thêm 09 điều mới; sửa đổi 15 điều và bãi bỏ 01 điều (Điều 73).

2.1. Về phạm vi sửa đổi:

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật phòng, chống tham nhũng tập trung sửa đổi, bổ sung những nội dung cụ thể sau:

– Tiếp tục mở rộng và tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, đặc biệt là về các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao;

– Hoàn thiện các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập theo hướng thực chất hơn giúp phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng;

– Trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước về quyết định, hành vi của mình khi có yêu cầu từ phía các đối tượng bị tác động trực tiếp;

– Trách nhiệm của người đứng đầu trong việc áp dụng các biện pháp tạm thời đối với cán bộ, công chức, viên chức khi có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng để xác minh, làm rõ;

– Sửa đổi các quy định có liên quan đến Ban chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng theo tinh thần Kết luận của Hội nghị Trung ương 5 khóa XI.

2.2. Các nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể:

2.2.1. Về Ban chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng (khoản 4 Điều 55 và Điều 73):

Thực hiện Kết luận Trung ương 5 khóa XI, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng đã bỏ cụm từ “Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng” tại khoản 4 Điều 55 và bãi bỏ Điều 73, Luật phòng, chống tham nhũng. Như vậy, ở Trung ương, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng sẽ được thành lập trực thuộc Bộ Chính trị do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban để đảm bảo sự thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng đối với toàn bộ hệ thống chính trị trong phòng, chống tham nhũng; ở địa phương sẽ không tổ chức ban chỉ đạo tỉnh, thành phố về phòng, chống tham nhũng và tổ chức, hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng sẽ được quy định trong văn kiện của Đảng, không quy định trong Luật phòng, chống tham nhũng; bảo đảm nguyên tắc Đảng không làm thay chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà nước và vẫn phù hợp với Hiến pháp và pháp luật. Quốc hội,  Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức hữu quan theo quy định của pháp luật đều có quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc tổ chức thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng.

2.2.2. Về hình thức và lĩnh vực thực hiện công khai, minh bạch:

  1. a) Về hình thức công khai:

Luật sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi khoản 2 Điều 12 Luật phòng, chống tham nhũng về hình thức công khai. Theo đó, các hình thức công khai bắt buộc mà người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải lựa chọn được quy định từ điểm b đến điểm e (khoản 1 Điều 12, Luật phòng, chống tham nhũng) khi pháp luật không có quy định về hình thức công khai.

Các hình thức này bao gồm:

– Niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

– Thông báo bằng văn bản đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan; phát hành ấn phẩm;

– Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng và đưa lên trang thông tin điện tử.

Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung cũng quy định người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thể lựa chọn thêm hình thức công bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân (điểm a, điểm g khoản 1 Điều 12, Luật phòng, chống tham nhũng).

Như vậy, so với Luật hiện hành, thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không được lựa chọn hình thức công bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân là hình thức bắt buộc mà chỉ được lựa chọn thêm bên cạnh việc thực hiện một hoặc một số hình thức bắt buộc quy định từ điểm b đến e khoản 1 Điều 12.

  1. b) Quy định thêm một số lĩnh vực công khai, minh bạch sau:

Luật đã quy định rõ, cụ thể hơn về các lĩnh vực phải công khai, minh bạch của Luật hiện hành; bảo đảm chặt chẽ, rõ ràng và thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành, cụ thể:

– Bổ sung “danh mục các dự án chỉ định thầu, lý do chỉ định thầu, thông tin về nhà thầu được chỉ định; danh mục các dự án đấu thầu hạn chế” vào nội dung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 13 về công khai, minh bạch trong mua sắm công và xây dựng cơ bản;

– Sửa đổi, bổ sung quy định về công khai, minh bạch trong quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Điều 14 nhằm làm rõ các nội dung phải thực hiện công khai, minh bạch, bao gồm: báo cáo tiền khả thi, báo cáo khả thi, báo cáo đánh giá tác động kinh tế – xã hội; các mục tiêu, dự kiến kết qủa, các nhóm hoạt động chính và đối tượng thụ hưởng trong quá trình lập dự án; quyết định phê duyệt dự án, kế hoạch thực hiện dự án; báo cáo tiến độ, báo cáo kết quả thực hiện dự án, báo cáo đánh giá thực hiện dự án và báo cáo kết thúc dự án;

– Sửa đổi, bổ sung thêm khoản 7 vào Điều 15 quy định trách nhiệm của cơ quan thuế, cơ quan hải quan và cơ quan, tổ chức, đơn vị khác có thu phí, lệ phí phải công khai căn cứ tính mức thu, số thu thực tế, đối tượng miễn, giảm và căn cứ miễn, giảm các khoản thu ngân sách;

– Sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 18 về công khai, minh bạch trong quản lý doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm công khai các nội dung gồm vốn và tài sản Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, vốn và tài sản của doanh nghiệp đầu tư vào công ty con, công ty liên doanh, ngoài ngành nghề kinh doanh, vốn vay ưu đãi, báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, việc lập và sử dụng quỹ, việc bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý, họ, tên, nhiệm vụ, lương và các khoản thu nhập khác của người trong hội đồng thành viên, hội đồng quản trị, tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc, kiểm soát viên, kế toán trưởng. Đồng thời, định kỳ hằng năm, doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm báo cáo về các nội dung công khai ở trên với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như cơ quan chủ quản, cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực kinh doanh chính và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp;

– Sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 19 nhằm làm rõ nội dung phải được công khai liên quan đến doanh nghiệp được cổ phần hóa, bao gồm: báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, phương án, kế hoạch cổ phần hóa doanh nghiệp nhằm tránh tình trạng cổ phần hóa khép kín hoặc biển thủ tiền, tài sản của Nhà nước trong quá trình thực hiện cổ phần hóa. Bên cạnh đó, Luật sửa đổi, bổ sung cũng quy định rõ về trách nhiệm của cơ quan cử người đại diện phần vốn của Nhà nước ở doanh nghiệp trong việc công khai giá trị doanh nghiệp được cổ phần hóa và điều chỉnh giá trị doanh nghiệp (nếu có);

– Đổi tên Điều 21 về công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng đất thành công khai, minh bạch trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, đồng thời bổ sung thêm quy định về công khai, minh bạch trong lĩnh vực khoáng sản, tài nguyên nước; trong quản lý nhà nước về môi trường. Nội dung thực hiện công khai, minh bạch trong các lĩnh vực này tập trung vào điều kiện, trình tự, thủ tục thực hiện quyền của cá nhân, tổ chức;

– Sửa đổi khoản 2 và bổ sung thêm khoản 3 vào Điều 23 về công khai, minh bạch trong lĩnh vực giáo dục, bao gồm việc quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước, cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ và nguồn lực tài chính cho hoạt động giáo dục, cũng như các khoản đầu tư, hỗ trợ cho giáo dục đối với cơ quan quản lý giáo dục; cam kết chất lượng, kết quả kiểm định chất lượng giáo dục, điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, việc thu, quản lý, sử dụng học phí, lệ phí và các khoản thu, chi tài chính khác đối với cơ sở giáo dục công lập;

– Bổ sung thêm các Điều 26a về công khai, minh bạch trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, truyền thông; Điều 26b về công khai, minh bạch trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn; Điều 26 c về công khai, minh bạch trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội; Điều 26d về công khai, minh bạch trong việc thực hiện chính sách dân tộc;

– Sửa đổi, bổ sung Điều 30 về công khai, minh bạch trong công tác tổ chức – cán bộ. Theo đó, mọi nội dung liên quan đến công tác tổ chức, cán bộ từ tuyển dụng, đến quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, cho thôi việc, cho thôi giữ chức vụ, hưu trí, chuyển ngạch, nâng ngạch, luân chuyển, điều động, biệt phái đến nâng lương, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức và thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể các đơn vị trực thuộc trong cơ quan, tổ chức;

– Sửa đổi khoản 3 Điều 32 về quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cá nhân nhằm tăng cường trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước liên quan đến việc thông báo cho người dân biết khi chưa cung cấp hoặc nội dung được yêu cầu đã được công khai nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của họ;

– Bổ sung Điều 32a quy định về trách nhiệm giải trình. Theo đó, khi có yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải giải trình về quyết định, hành vi của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao trước cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, lợi ích hợp pháp bị tác động trực tiếp bởi quyết định, hành vi đó. Luật cũng giao Chính phủ quy định chi tiết về trách nhiệm của cơ quan có nghĩa vụ giải trình; trình tự, thủ tục của việc giải trình.

2.2.3. Về minh bạch tài sản, thu nhập:

– Công khai bản kê khai tài sản là quy định mới về phòng ngừa tham nhũng, góp phần minh bạch tài sản, thu nhập để tiến tới kiểm soát thu nhập, đồng thời tạo điều kiện việc giám sát, phát hiện tham nhũng. Tuy nhiên, vì đây là vấn đề mới nên cần có bước đi thận trọng, nghiên cứu kỹ, toàn diện về nhiều mặt, phù hợp với điều kiện, năng lực quản lý, kiểm soát thu nhập hiện nay của Nhà nước ta. Nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập, Luật này đã bổ sung quy định về công khai bản kê khai tài sản (Điều 46a). Theo đó, bản kê khai tài sản phải được công khai tại nơi thường xuyên làm việc của người có nghĩa vụ kê khai. Người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức quyết định việc công khai bằng hình thức công bố tại cuộc họp hoặc niêm yết tại trụ sở làm việc của người có nghĩa vụ kê khai. Trong trường hợp niêm yết, thì thời gian tối thiểu là 30 ngày liên tục.

Luật cũng bổ sung quy định bản kê khai tài sản của người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phải được công khai tại hội nghị cử tri nơi công tác của người đó; bản kê khai tài sản của người dự kiến được bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân phải được công khai với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tại kỳ họp.

– Bổ sung Điều 46b về nghĩa vụ giải trình tài sản tăng thêm. Để bảo đảm tính minh bạch và hợp pháp của tài sản, Luật quy định, trong bản kê khai tài sản, người có nghĩa vụ kê khai phải giải trình về nguồn gốc phần tài sản tăng thêm bên cạnh việc làm rõ mọi biến động về tài sản của mình có trong kỳ kê khai. Như vậy, người kê khai tài sản có nghĩa vụ giải trình nguồn gốc phần tài sản tăng thêm thuộc sở hữu của mình và thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng và con chưa thanh niên.

Đồng thời, Luật đã giao Chính phủ quy định mức giá trị tài sản tăng thêm, việc xác định giá trị tài sản tăng thêm, thẩm quyền yêu cầu giải trình, trách nhiệm của người giải trình và trình tự, thủ tục của việc giải trình.

– Sửa đổi, bổ sung Điều 47 về xác minh tài sản nhằm quy định rõ hơn về căn cứ xác minh tài sản trên tinh thần Kết luận Trung ương 5 khóa XI của Đảng.

– Bổ sung Điều 47a về thẩm quyền yêu cầu xác minh tài sản. Ngoài ra, để phục vụ cho hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, các cơ quan có thẩm quyền trong những lĩnh vực này có quyền yêu cầu xác minh tài sản để phục vụ cho việc xác minh, làm rõ hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng. Đồng thời, Luật cũng bổ sung quy định về việc giao Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục xác minh tài sản vào khoản 6 Điều 48.

2.2.4 Về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng:

Luật bổ sung thêm Điều 53a về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong việc tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển sang vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức khi có căn cứ cho rằng cán bộ, công chức, viên chức đó có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng nếu xét thấy người đó tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý. Đồng thời khoản 2 Điều 53a cũng quy định về trách nhiệm của người đứng đầu, người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong việc áp dụng các biện pháp tạm thời này khi có yêu cầu của cơ quan thanh tra, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nếu trong quá trình thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát phát hiện có căn cứ cho rằng người đó có hành vi tham nhũng để xác minh, làm rõ.

Tuy nhiên, nhằm hạn chế việc sử dụng các biện pháp này vào mục đích trái pháp luật, khoản 3 Điều 53a quy định về việc hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác, cũng như thông báo công khai đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và khôi phục quyền, lợi ích pháp cho cán bộ, công chức, viên chức khi cơ quan có thẩm quyền kết luận người đó không có hành vi tham nhũng;

Luật cũng giao cho Chính phủ quy định chi tiết về trình tự, thủ tục, thời hạn tạm đình chỉ, chuyển vị trí công tác khác; việc hưởng lương, phụ cấp, quyền lợi ích khác và việc bồi thường, khôi phục lại quyền, lợi ích hợp pháp sau khi có kết luận không có hành vi tham nhũng.

2.2.5. Về trách nhiệm giải trình

Luật đã bổ sung trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với quyết định, hành vi của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao trước cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, lợi ích hợp pháp bị tác động trực tiếp bởi quyết định, hành vi đó, khi có yêu cầu. Đồng thời giao cho Chính phủ quy định chi tiết về trách nhiệm của cơ quan có nghĩa vụ giải trình; trình tự, thủ tục của việc giải trình.

2.2.6. Một số nội dung khác:

Luật cũng đã sửa đổi, bổ sung trách nhiệm của Kiểm toán Nhà nước. Theo đó, bổ sung thêm quy định Kiểm toán Nhà nước có trách nhiệm phối hợp xử lý hành vi tham nhũng, trường hợp phát hiện tham nhũng thì chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý.

Ngoài những nội dung nêu trên, Luật sửa đổi, bổ sung cũng đã chỉnh lý một số quy định cho phù hợp với các Luật hiện hành như Luật khiếu nại, Luật tố cáo, Luật Kiểm toán Nhà nước tại khoản 2 Điều 27, khoản 4 Điều 55.

II. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ

  1. Sự cần thiết ban hành Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013

Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được ban hành từ năm 2005 đã tạo được khung pháp lý có giá trị cao và đồng bộ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (THTK, CLP) của các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và nhân dân. Theo đó, đã có những chuyển biến tích cực trong nhận thức về THTK, CLP của các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân trong lao động, sản xuất và đời sống. Các Bộ ngành, địa phương, các cơ quan, đơn vị đã xây dựng và ban hành các chương trình, kế hoạch công tác đưa việc tổ chức triển khai thực hiện THTK, CLP thành một nội dung của hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, đưa kết quả THTK, CLP thành tiêu chí xem xét, đánh giá chất lượng cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, thực tế thi hành Luật cho thấy tình trạng lãng phí vẫn xảy ra trên nhiều lĩnh vực, chưa được ngăn chặn triệt để, cụ thể như sau:

  1. Trong quản lý, sử dụng kinh phí NSNN chi thường xuyên:

Một số cơ quan, đơn vị, vẫn còn tình trạng chi vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ hoặc sử dụng kinh phí sai mục đích; không thực hiện nghiêm túc việc quản lý, sử dụng kinh phí theo quy định của cơ quan có thẩm quyền dẫn đến lãng phí hoặc sử dụng không hiệu quả kinh phí NSNN được giao làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, làm giảm hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước. Từ năm 2006 đến năm 2010, các đơn vị ngành Tài chính thực hiện 32.933 cuộc thanh tra, kiểm tra, tập trung vào công tác điều hành, quản lý và sử dụng kinh phí NSNN tại các cơ quan, đơn vị, địa phương. Qua thanh tra, kiểm tra đã phát hiện và kiến nghị xử lý tài chính 18.473 tỷ đồng, trong đó: thu hồi nộp NSNN 15.037 tỷ đồng; xử phạt hành chính 1.037 tỷ đồng; xử lý tài chính khác  2.398  tỷ  đồng. Từ 2006 – tháng 7/2012, hệ thống kho bạc nhà nước đã thực hiện kiểm soát và phát hiện trên 219.000 khoản chi của hơn 96.443 lượt đơn vị chưa chấp hành đúng thủ tục, chế độ quy định và đã yêu cầu đơn vị bổ sung các thủ tục cần thiết, đã từ chối chưa thanh toán với số tiền khoảng 2.086 tỷ đồng[2].

  1. Trong quản lý đầu tư xây dựng các dự án sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước:

Việc quản lý và triển khai thực hiện các dự án đầu tư trong những năm qua còn nhiều hạn chế, yếu kém, thất thoát, lãng phí xảy ra ở hầu hết các giai đoạn của quá trình đầu tư, dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp. Trong năm 2010, cả nước có 3.386 dự án chậm tiến độ, chiếm 9,78% số dự án thực hiện trong kỳ; số dự án phải điều chỉnh chiếm 15,14% (5.239/34.607); số dự án vi phạm quy định về quản lý đầu tư là 221 dự án, chiếm 0,63% (vi phạm về thủ tục đầu tư 112 dự án, vi phạm về quản lý chất lượng 109 dự án) (Tổng hợp kết quả kiểm toán năm 2011)[3]. Kết quả kiểm toán 8 tháng đầu năm 2012 cho thấy hầu hết các dự án đầu tư được kiểm toán đều có sai phạm trong công tác đấu thầu, thẩm định, phê duyệt dự án, nghiệm thu khống, nghiệm thu sai khối lượng, đơn giá, quyết toán thừa cho nhà thầu.

  1. Trong quản lý, sử dụng đất đai, trụ sở làm việc, nhà công vụ:

Tình trạng sử dụng nhà đất không đúng mục đích, bị lấn chiếm hoặc để hoang hóa, khai thác không hết công năng hoặc sai mục đích vẫn còn tồn tại. Một số nơi buông lỏng quản lý dẫn đến tình trạng giao đất, cho thuê đất nhưng không sử dụng, để lãng phí. Tình trạng giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất sai quy định, không đúng đối tượng, không đúng thẩm quyền dẫn đến khiếu kiện đông người vẫn còn xảy ra. Quy  hoạch “treo” vẫn còn ở nhiều địa phương gây lãng phí lớn nhưng chậm được khắc phục.

  1. Trong quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động trong khu vực nhà nước:

 Vẫn còn cơ quan, đơn vị trong bộ máy nhà nước chưa đạt hiệu quả cao trong quản lý nhà nước. Đội ngũ cán bộ công chức có nơi chất lượng chưa cao, hiệu quả quản lý, sử dụng chưa đạt yêu cầu. Vẫn còn không ít cơ quan, tổ chức chưa có quy chế nội bộ về quản lý thời gian lao động, sắp xếp công việc thiếu khoa học, hợp lý dẫn đến hiệu quả sử dụng thời gian lao động thấp.

  1. Trong quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp

Vẫn còn không ít doanh nghiệp chưa ý thức được việc cần thiết phải áp dụng những biện pháp tiết kiệm để giảm chi phí sản xuất, kinh doanh nên hiệu quả sản xuất, kinh doanh thấp. Quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước vẫn còn sơ hở, sử dụng vốn kém hiệu quả, một số doanh nghiệp thực hiện đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh trong khi năng lực quản lý, trình độ quản trị doanh nghiệp và khả năng tài chính có hạn để thua lỗ kéo dài.  Trong 6 tháng đầu năm 2012 thực hiện tiết giảm chi phí được 4.433 tỷ đồng trên tổng số 12.548,7 tỷ đồng đã đăng ký, đạt 35.22% (Báo cáo số 242/BC-CP ngày 21/9/2012).  Năm 2011, một số doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu thua lỗ lớn (Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Xăng dầu quân đội) hoặc có lãi nhưng hiệu quả chưa cao (Tổng công ty CP Xây lắp dầu khí); một số doanh nghiệp sử dụng đất kém hiệu quả (Tổng công ty CN Sài Gòn, Tổng công ty Văn hoá Sài Gòn, Tổng công ty Xăng dầu quân đội, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam);… (Báo cáo số 1256/BC-KTNN ngày 05/9/2012).

  1. Trong sản xuất và tiêu dùng của nhân dân:

Trong việc tổ chức lễ hội và các hoạt động khác có sử dụng nguồn lực đóng góp của cộng đồng tình trạng lãng phí vẫn còn diễn ra. Nguyên nhân của tình trạng trên là:

– Thứ nhất, công tác tổ chức thực hiện Luật nhiều khi chưa được quan tâm thực hiện nghiêm túc; một số bộ, ngành địa phương chưa thực sự tự giác trong việc xây dựng các giải pháp để triển khai việc THTK, CLP trong lĩnh vực, phạm vi được giao quản lý. Trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thực hiện các biện pháp THTK,CLP có nơi, có lúc chưa được đề cao. Công tác giám sát của các cơ quan dân cử, của các tổ chức xã hội và hiệp hội nghề nghiệp, nhất là giám sát của nhân dân chưa được phát huy, hiệu quả thấp.

– Thứ hai, hệ thống định mức kinh tế, kỹ thuật và tiêu chuẩn, chế độ trong việc sử dụng vốn và tài sản nhà nước đã được cập nhật, sửa đổi, bổ sung khá thường xuyên tuy nhiên vẫn còn chưa sát với thực tế dẫn đến ý thức chấp hành còn hạn chế, thực hiện chưa nghiêm, gây lãng phí vốn và tài sản nhà nước trong nhiều lĩnh vực.

– Thứ ba, chưa có quy định cụ thể hành vi gây lãng phí, chưa có cơ chế, biện pháp hiệu quả trong triển khai THTK, CLP, việc triển khai Luật vào cuộc sống còn hạn chế. Biện pháp triển khai thông qua Chương trình THTK, CLP còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu, mới chỉ mang tính dài hạn mà chưa đưa ra được các mục tiêu, chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá cụ thể. Các quy định về THTK, CLP tại Luật hiện hành còn chung chung, dàn trải và trùng lắp, chưa bao quát thể hiện được rõ nội hàm về THTK, CLP trong các lĩnh vực.

– Thứ tư, công tác thanh tra, kiểm tra về thực hành tiết kiệm chống lãng phí tại các cấp các ngành chưa được thực hiện thường xuyên, liên tục và có hiệu quả. Các quy định về thanh tra, kiểm tra, trong THTK, CLP còn chưa cụ thể nên làm hạn chế tính hiệu lực, hiệu quả trong triển khai Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

– Thứ năm, một số quy định của Luật chưa cập nhật với các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trong thời gian qua. Kể từ khi Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phíban hành và có hiệu lực (1/6/2006), Quốc hội đã ban hành nhiều Luật mới có liên quan, trong đó có 10 luật chuyên ngành được sửa đổi, bổ sung và 13 luật chuyên ngành được ban hành mới, đã làm cho các quy định trong Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trở nên khó triển khai thực hiện, phát sinh nhu cầu phải sửa đổi cho phù hợp để đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống pháp luật. Bên cạnh đó, một số quy định của Luật còn chung chung, mang tính hình thức, chưa đưa ra được các giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cụ thể. Đồng thời, phạm vi điều chỉnh của Luật cũng chưa bao quát được hết một số lĩnh vực như quản lý sử dụng tài sản nhà nước; quản lý, sử dụng các loại tài nguyên; quản lý, sử dụng các quỹ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.

Theo đó, để kịp thời khắc phục những tồn tại, hạn chế của Luật năm 2005, đặc biệt là gia tăng các cơ chế, biện pháp thực hành tiết kiệm, xác định rõ hành vi vi phạm, chế tài xử lý các hành vi gây lãng phí để góp phần ngăn chặn và đẩy lùi lãng phí đang là vấn nạn hiện nay; hoàn thiện thêm cơ chế phát hiện và đấu tranh chống các hành vi gây lãng phí một cách hiệu lực, hiệu quả thông qua việc tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, kiểm toán nội bộ, kiểm soát chi trong các lĩnh vực THTK, CLP và đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, việc ban hành Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thay thế Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005 là cần thiết.

  1. Quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

2.1. Kế thừa những nội dung, quy định của Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí 2005 còn phù hợp; Luật hóa các quy định dưới Luật đã được thực hiện ổn định, có hiệu quả.

2.2. Làm rõ hơn các quy định về chống lãng phí; lấy chống lãng phí làm trọng tâm trên cơ sở thực hiện tốt thực hành tiết kiệm xuyên suốt trong các quy định của Luật và trong cơ chế tổ chức điều hành, thực thi Luật.

2.3. Sửa đổi các nội dung và các điều luật theo hướng gia tăng các quy định về cơ chế, giải pháp, biện pháp cụ thể về THTK, CLP; bổ sung, cụ thể hóa các quy định về thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhằm tăng tính hiệu quả, hiệu lực của các biện pháp THTK, CLP; bổ sung làm rõ các hành vi vi phạm để có chế tài xử lý tăng tính khả thi trong thực hiện Luật.

2.4. Cập nhật hệ thống pháp luật, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các văn bản pháp luật liên quan; bảo đảm tính minh bạch và thuận lợi trong tổ chức thực hiện.

  1. Bố cục và những nội dung cơ bản của Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí.

3.1. Bố cục của Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 được bố cục thành 5 chương gồm 80 Điều, trong đó quy định việc thực hành tiết kiệm trong các lĩnh vực tập trung tại Chương II, cụ thể như sau:

– Chương I: Quy định chung, gồm 10 điều (từ Điều 1 đến Điều 10)

Nội dung Chương này quy định về: Phạm vi điều chỉnh; Đối tượng áp dụng; Giải thích từ ngữ; Nguyên tắc THTK, CLP; Công khai về THTK, CLP; Giám sát về THTK, CLP; Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong việc THTK, CLP; Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong việc THTK, CLP; Phát hiện lãng phí và trách nhiệm xử lý thông tin phát hiện lãng phí; Kiểm tra, thanh tra, kiểm soát chi, kiểm toán nhà nước.

– Chương II: Quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong một số lĩnh vực gồm 8 mục và 56 điều (từ Điều 11 đến Điều 66), cụ thể như sau:

+ Mục 1: THTK, CLP trong việc ban hành, thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ.

Mục này gồm 6 điều (từ Điều 11 đến Điều 16). Mục này quy định về: Hệ thống định mức, tiêu chuẩn, chế độ; Nguyên tắc ban hành định  mức, tiêu chuẩn, chế độ; Trách nhiệm trong ban hành, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ; Hành vi vi phạm trong ban hành, thực hiện và kiểm tra định mức, tiêu chuẩn, chế độ.

+ Mục 2: THTK, CLP trong lập, thẩm định, phê duyệt dự toán, quyết toán, quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước.

Mục này gồm 11 điều (từ Điều 17 đến Điều 27) quy định về THTK, CLP trong: Lập, thẩm định, phê duyệt, phân bổ dự toán, quyết toán ngân sách nhà nước; Quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước; Quản lý, sử dụng kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình quốc gia; Quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế; Thành lập, quản lý, sử dụng quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước; THTK, CLP trong một số trường hợp sử dụng ngân sách nhà nước; Giao tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho các cơ quan, tổ chức; Hành vi gây lãng phí trong lập, thẩm định, phê duyệt, phân bổ, giao dự toán, quyết toán, quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước.

+ Mục 3: THTK, CLP trong mua sắm, sử dụng phương tiện đi lại và phương tiện, thiết bị làm việc của cơ quan, tổ chức trong khu vực nhà nước.

Mục này gồm 5 điều (từ Điều 28 đến Điều 32) quy định về THTK, CLP trong: Mua sắm; trang bị, sửa chữa phương tiện đi lại; Quản lý, sử dụng phương tiện đi lại; Mua sắm, trang bị, quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị làm việc, phương tiện thông tin, liên lạc và các hành vi gây lãng phí trong mua sắm, trang bị, quản lý, sử dụng phương tiện đi lại, phương tiện, thiết bị làm việc và phương tiện thông tin liên lạc.

+ Mục 4: THTK, CLP trong đầu tư xây dựng; quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, nhà ở công vụ và công trình phúc lợi công cộng

Mục này gồm 13 Điều (từ Điều 33 đến Điều 45) quy định về THTK, CLP trong: Lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch và danh mục dự án đầu tư, dự án đầu tư; Khảo sát, thiết kế xây dựng công trình; Lập, thẩm định, phê duyệt tổng dự toán, dự toán công trình; Lựa chọn nhà thầu, tổ chức tư vấn giám sát thực hiện dự án đầu tư; Thực hiện dự án đầu tư, thi công công trình; Quản lý, sử dụng vốn đầu tư xây dựng; Tổ chức lễ động thổ, lễ khởi công, lễ khánh thành công trình xây dựng; Quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, nhà ở công vụ, công trình phúc lợi công cộng và hành vi lãng phí trong đầu tư xây dựng, quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, nhà ở công vụ và công trình phúc lợi công cộng.

+ Mục 5: THTK, CLP trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên

Mục này gồm 6 điều (từ Điều 46 đến Điều 53) quy định về: Nguyên tắc THTK, CLP trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên; THTK, CLP trong quản lý, sử dụng đất, tài nguyên nước, khoáng sản, tài nguyên rừng và tài nguyên khác; Sử dụng tài nguyên tái chế và các nguồn năng lượng tái tạo; Hành vi gây lãng phí trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên.

+ Mục 6: THTK, CLP trong tổ chức bộ máy, quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động trong khu vực nhà nước

Mục này gồm 5 điều (từ Điều 54 đến Điều 58) quy định về: Nguyên tắc THTK, CLP trong quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động; THTK, CLP trong quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và trong các cơ quan, tổ chức khác; Hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước.

+ Mục 7: THTK, CLP trong quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp

Mục này gồm 4 điều (từ Điều 59 đến Điều 62) quy định về THTK, CLP trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Quản lý, sử dụng đất và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp; THTK, CLP tại doanh nghiệp nhà nước; Hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

+ Mục 8: THTK, CLP trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của nhân dân

Mục này gồm 4 điều (từ Điều 63 đến Điều 66) quy định về: Nguyên tắc THTK, CLP trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của nhân dân; THTK, CLP trong đầu tư xây dựng, sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của nhân dân; THTK, CLP trong tổ chức lễ hội và các hoạt động khác có sử dụng nguồn lực đóng góp của cộng đồng; Tổ chức thực hiện quy định về THTK, CLP trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của nhân dân

– Chương III: Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, gồm 12 Điều (từ Điều 67 đến Điều 75)

Chương này quy định về trách nhiệm trong THTK, CLP của Chính phủ, Bộ Tài chính, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; cơ quan thanh tra; Kiểm toán nhà nước; cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân.

– Chương IV: Khiếu nại, tố cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm gồm 3 điều (từ Điều 76 đến Điều 78)

– Chương V: Điều khoản thi hành gồm 2 điều (Điều 79 và Điều 80) quy định về hiệu lực thi hành và quy định chi tiết Luật

Như vậy, so với Luật năm 2005 (gồm 11 chương, 86 điều), Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 giảm 6 chương và 6 Điều. Việc giảm số chương, điều nói trên là kết quả của rà soát, xử lý những nội dung trùng lặp tại Luật hiện hành.

3.2. Nội dung cơ bản của Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

3.2.1. Về phạm vi và đối tượng điều chỉnh

– Về phạm vi điều chỉnh:

Luật năm 2005 quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước, tài nguyên thiên nhiên và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật năm 2005, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 đã kết cấu lại và làm rõ hơn phạm vi điều chỉnh về: (1) Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, vốn nhà nước, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước; (2) Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên; (3) Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (Điều 1).

Về nội dung này, trong quá trình soạn thảo, có ý kiến cho rằng Luật này chỉ điều chỉnh đối với khu vực nhà nước, không quy định đối với khu vực ngoài nhà nước vì đối với khu vực ngoài nhà nước, bao gồm cả doanh nghiệp và nhân dân thì chỉ có thể quy định mang tính khuyến khích, không thể có chế tài xử lý, nên hiệu quả điều chỉnh của Luật sẽ không cao. Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh hiện nay, việc quy định như trên là cần thiết và hợp lý nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong xã hội nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, ích nước, lợi nhà. Bên cạnh ý nghĩa đó còn nhằm xác định trách nhiệm có tính chất xã hội trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của doanh nghiệp và người dân mà không nhất thiết phải bằng chế tài như đối với khu vực nhà nước.

– Về đối tượng áp dụng:

Tương ứng với phạm vi điều chỉnh, Luật năm 2013 quy định đối tượng áp dụng gồm 3 nhóm đối tượng là: (1) Cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, vốn nhà nước, tài sản nhà nước, lao động trong khu vực nhà nước; (2) Cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên; (3) Tổ chức, hộ gia đình và cá nhân khác (Điều 2).

3.2.2. Về nguyên tắc THTK, CLP

Trên cơ sở kế thừa quy định về nguyên tắc THTK, CLP tại Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005, tại Điều 4 Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 đã bổ sung, làm rõ nguyên tắc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí: thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là nhiệm vụ thường xuyên từ chủ trương, đường lối, cơ chế chính sách đến tổ chức thực hiện gắn với kiểm tra, giám sát (Khoản 1 Điều 4); thực hành tiết kiệm, chống lãng phí phải gắn với cải cách hành chính và bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, không để ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị (Khoản 3 Điều 4).

3.2.3. Công khai về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005 chỉ quy định về lĩnh vực công khai, hình thức công khai, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 đã bổ sung việc quy định xác định công khai trong quản lý ngân sách nhà nước, vốn, tài sản, lao động, thời gian lao động và các nguồn tài nguyên là biện pháp để bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (Khoản 1 Điều 5).

Đồng thời, để tạo điều kiện cho việc giám sát thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cũng như tăng tính nghiêm minh trong thực thi pháp luật, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 đã bổ sung quy định công khai kết quả thực hành tiết kiệm; hành vi lãng phí và kết quả xử lý hành vi lãng phí tại Điểm g Khoản 2 Điều 5: “Chương trình, kế hoạch thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kết quả thực hành tiết kiệm; hành vi lãng phí và kết quả xử lý hành vi lãng phí”.

3.2.4. Về định mức, tiêu chuẩn, chế độ làm căn cứ thực hiện thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Để khắc phục các mặt hạn chế liên quan đến việc ban hành định mức, tiêu chuẩn, chế độ làm căn cứ thực hiện thực hành tiết kiệm, chống lãng phí những năm qua, xác định định mức, tiêu chuẩn, chế độ làm căn cứ thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, căn cứ để kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hành tiết kiệm chống lãng phí cho phù hợp với tình hình và cơ chế chính sách hiện nay, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 đã sửa đổi, bổ sung làm rõ 3 nhóm định mức, tiêu chuẩn, chế độ (Điều 11), bao gồm: (i) Định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật, áp dụng chung trong cả nước hoặc trong phạm vi ngành, lĩnh vực, địa phương; (ii) Định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan, tổ chức được giao quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, vốn nhà nước, tài sản nhà nước, lao động và thời gian lao động trong khu vực nhà nước và các nguồn tài nguyên ban hành theo thẩm quyền; (iii) Định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định tại quy chế chi tiêu nội bộ của cơ quan, tổ chức được xây dựng và ban hành đúng pháp luật.

Theo đó, hệ thống định mức, tiêu chuẩn không chỉ là định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành mà còn là định mức, tiêu chuẩn do cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, vốn nhà nước, tài sản nhà nước.

3.2.5. Về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức và của cán bộ công chức, viên chức

Trên cơ sở kế thừa Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 đã quy định cụ thể về trách nhiệm của người đứng đầu và cán bộ, công chức, viên chức. Đặc biệt, Luật THTK, CLP năm 2013 đã bổ sung trách nhiệm giải trình trước về việc xảy ra lãng phí trong cơ quan, tổ chức mình (Khoản 3 Điều 7); giải trình và chịu trách nhiệm cá nhân về việc để xảy ra lãng phí thuộc phạm vi quản lý, sử dụng của cán bộ, công chức, viên chức (Khoản 2 Điều 8).

Đồng thời, Luật năm 2013 cũng quy định cụ thể về các trường hợp phải xử lý vi phạm và bồi thường thiệt hại, trong đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân, người đứng đầu có hành vi vi phạm, để xảy ra lãng phí ngoài trách nhiệm giải trình còn có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm liên đới cũng được đặt ra với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên nếu để xảy ra lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp dưới và trong đơn vị cấp phó của mình trực tiếp phụ trách (Điều 78).

3.2.6. Về phát hiện lãng phí và trách nhiệm xử lý thông tin phát hiện lãng phí

Đây được coi là điểm mới quan trọng trong Luật năm 2013, tạo cơ chế khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia phát hiện và cung cấp kịp thời các thông tin về lãng phí góp phần ngăn chặn lãng phí cũng như để xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc để xảy ra lãng phí. Thông tin phát hiện lãng phí dưới mọi hình thức phải được người đứng đầu cơ quan, tổ chức nơi có lãng phí xem xét, xử lý, khắc phục kịp thời và thực hiện việc giải trình về việc để xảy ra lãng phí (Điều 9).

3.2.7. Về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong từng lĩnh vực

Luật năm 2005 lấy việc THTK, CLP trong khu vực nhà nước làm trọng tâm, từ đó mở rộng quy định việc THTK, CLP đối với các nguồn lực khác mà pháp luật chuyên ngành còn thiếu hoặc chưa bao quát hết. Theo đó, Luật đã dành 7 Chương (56 Điều) tương ứng với 7 lĩnh vực cụ thể để điều chỉnh. Việc quy định như vậy làm cho Luật trở nên dàn trải và trùng lắp. Để khắc phục nhược điểm này, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 đã kết cấu lại theo hướng tập trung vào một Chương (Chương II) gồm 8 Mục và 56 điều, với đồng bộ các quy định về cơ chế, biện pháp THTK, CLP, trách nhiệm THTK, CLP và các chế tài cụ thể đối với các hoạt động, các đối tượng liên quan đến yêu cầu THTK, CLP.

– Ngoài ra, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 đã bổ sung quy định về quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo và nhiệm vụ y tế (Điều 22, Điều 23) là những lĩnh vực dễ xảy ra lãng phí trong thực tế và quy định về thực hành tiết kiệm chống lãng phí trong quản lý, sử dụng quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước để tăng cường hiệu quả, tiết kiệm trong việc sử dụng nguồn kinh phí này, hạn chế tối đa bằng việc quy định cụ thể việc thành lập quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước (Điều 24).

– Đối với các hoạt động phải thực hiện yêu cầu quản lý phù hợp với mục tiêu thực hành tiết kiệm, chống lãng phí như tổ chức hội nghị, hội thảo, toạ đàm; cử cán bộ, công chức, viên chức đi công tác; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; sử dụng điện, nước; sử dụng văn phòng phẩm, sách báo, tạp chí; tiếp khách, khánh tiết, lễ hội, lễ kỷ niệm thay vì dành từng điều riêng quy định đối với mỗi hoạt động như Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005, Luật mới đã tập trung vào 1 điều (Điều 25) để quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong quản lý, sử dụng các hoạt động này, đặc biệt đưa ra quy định hàng năm đơn vị phải thực hiện kiểm toán nội bộ đối với các khoản chi tiêu liên quan đến các hoạt động này để tăng tính hiệu quả, hiệu lực của Luật.

3.2.8. Về hành vi gây lãng phí

Trong Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005, các hành vi gây lãng phí không được quy định trực tiếp, gây khó khăn cho việc áp dụng Luật trong thực tiễn. Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 đã bổ sung quy định về hành vi gây lãng phí một cách tương đối đầy đủ và toàn diện trong các lĩnh vực cụ thể: Hành vi vi phạm trong ban hành, thực hiện và kiểm tra định mức, tiêu chuẩn, chế độ (Điều 16); Hành vi gây lãng phí trong lập, thẩm định, phê duyệt, phân bổ, giao dự toán, quyết toán, quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước (Điều 27); Hành vi gây lãng phí trong mua sắm, trang bị, quản lý, sử dụng phương tiện đi lại, phương tiện, thiết bị làm việc và phương tiện thông tin, liên lạc (Điều 32); Hành vi gây lãng phí trong đầu tư xây dựng, quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, nhà ở công vụ và công trình phúc lợi công cộng (Điều 45); Hành vi gây lãng phí trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên (Điều 53); Hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước (Điều 58); Hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Điều 62);

Những quy định này giúp cho việc nhận diện hành vi gây lãng phí thuận lợi hơn, đưa công tác chống lãng phí đi vào thực chất, hiệu quả.

3.2.9. Về cơ chế triển khai thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

– Xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu tiết kiệm, yêu cầu chống lãng phí

Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005 quy định về cơ chế, biện pháp triển khai thực hành tiết kiệm chống lãng phí theo Chương trình tổng thể của Chính phủ về THTK, CLP hàng năm và dài hạn. Trên cơ sở đó, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh xây dựng và thực hiện Chương trình THTK, CLP hàng năm và dài hạn thuộc phạm vi, lĩnh vực quản lý.

Tuy nhiên, qua quá trình triển khai thực hiện cho thấy Chương trình THTK, CLP còn nặng về định tính, thiên về dài hạn vì vậy trở nên hình thức do chưa quan tâm đúng mức đến việc xác định mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể. Bên cạnh đó, việc chỉ quy định trách nhiệm của một số Bộ dẫn tới vừa không đủ các Bộ liên quan, vừa thừa do trách nhiệm cụ thể của Bộ trong việc THTK, CLP đã có điều quy định chung và đã được quy định trong chức năng, nhiệm vụ của mỗi Bộ theo Luật tổ chức Chính phủ.

Để việc THTK, CLP được thực hiện một cách thiết thực, có hiệu quả, có chiều sâu, đi vào cuộc sống, cần cụ thể hóa Chương trình THTK, CLP trên góc độ lượng hóa mục tiêu, chỉ tiêu tiết kiệm, yêu cầu chống lãng phí, Luật năm 2013 đã quy định rõ việc xác định mục tiêu, chỉ tiêu tiết kiệm và yêu cầu chống lãng phí chung trên cả nước gắn với kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội trong chương trình tổng thể về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí hàng năm và dài hạn (Điều 67), đồng thời đặt ra yêu cầu trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của các Bộ ngành, UBND các cấp cũng phải xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá thực hành tiết kiệm chống lãng phí thuộc phạm vi, lĩnh vực quản lý ( Điều 69 và Điều 71). Việc quy định cụ thể các mục tiêu, chỉ tiêu và yêu cầu chống lãng phí trong Chương trình hành động là cần thiết, khắc phục được tình trạng bất cập của quy định trong Luật cũ là Chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chỉ mang tính định tính, thiếu giải pháp, biện pháp cụ thể do chưa có định lượng rõ ràng. Việc bổ sung các mục tiêu, chỉ tiêu và yêu cầu chống lãng phí trong chương trình vừa là cơ sở cho việc thực hiện chương trình, đồng thời là cơ sở để đánh giá kết quả thực hiện các chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tại từng cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế. Đây là vấn đề có tính chất cốt lõi trong việc đổi mới cơ chế tổ chức điều hành THTK, CLP qua đó, sẽ đánh giá được hiệu quả, kết quả cụ thể của từng địa phương, ngành, lĩnh vực và của cả nước.

– Ngoài ra, khắc phục nhược điểm của Luật năm 2005 trong quy định trách nhiệm của Bộ, ngành, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 chỉ quy định rõ trách nhiệm của Bộ Tài chính (Điều 68) là cơ quan chủ trì giúp Chính phủ thống nhất triển khai hướng dẫn các quy định của Luật còn trách nhiệm của tất cả các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ được tập trung quy định tại một điều để tránh tình trạng vừa thừa, vừa thiếu.

– Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán

Để nâng cao vai trò giám sát, thanh tra, kiểm toán, ngoài quy định chung tại Điều 6, Điều 10, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 còn có một số điều quy định cụ thể về trách nhiệm của Mặt trận tổ quốc và các thành viên (Điều 72), trách nhiệm của cơ quan thanh tra (Điều 73), trách nhiệm của Kiểm toán Nhà nước (Điều 74), trách nhiệm của cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân (Điều 75). Theo đó, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 đã khắc phục kịp thời những tồn tại của Luật năm 2005 và hoàn thiện cơ chế đấu tranh chống các hành vi gây lãng phí thông qua việc tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, bổ sung quy định đối với các trường hợp sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước để tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm, đi công tác…phải thực hiện kiểm toán nội bộ hàng năm để kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm.

– Có cơ chế khen thưởng hợp lý

Để khuyến khích các cơ quan, tổ chức, cá nhân  thực hành tiết kiệm, tham gia phát hiện lãng phí, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 bổ sung quy định về việc khen thưởng và nguồn khen thưởng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong thực hành tiết kiệm, tham gia phát hiện lãng phí, chống lãng phí (Khoản 2 Điều 77).

3.2.10. Về thời gian báo cáo Quốc hội

Để khắc phục quy định của Luật năm 2005 là báo cáo kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong năm tại kỳ họp cuối năm dẫn đến không đủ số liệu của năm báo cáo,Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 đã sửa đổi theo hướng quy định việc báo cáo kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của năm trước sẽ được thực hiện tại kỳ họp Quốc hội đầu tiên của năm tiếp theo (Khoản 4 Điều 67).

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG VÀ THỰC HÀNH TIẾT KIỆM CHỐNG LÃNG PHÍ TRONG QUÂN ĐỘI

  1. Thi hành, chấp hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Trong quân đội, để Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các văn bản hướng dẫn thi hành đi vào cuộc sống, phát huy hiệu lực, hiệu quả, các cấp cần triển khai tốt một số nhiệm vụ như sau:

Trách nhiệm của cấp ủy, người chỉ huy cơ quan, đơn vị:

Cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và triển khai thực hiện nghiêm các quy định về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí bảo đảm sát với thực tiễn cơ quan, đơn vị và phân công trách nhiệm rõ ràng, cụ thể. Gắn nội dung trên với lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt, tuyên truyền, phổ biến nghị quyết chỉ thị của Đảng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí bảo đảm sát với thực tiễn cơ quan, đơn vị và phân công trách nhiệm rõ ràng, cụ thể. Gắn nội dung trên với lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt, tuyên truyền, phổ biến nghị quyết, chỉ thị của Đảng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, việc thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh:, Nghị quyết Trung ương 4(khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Chỉ thị số 380-CT-QU ngày 30/4/2014 của Quân ủy Trung ương về việc tiếp tục thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 97/CT-BQP ngày 19/11/2014 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc tăng cường các biện pháp triển khai thực hiện minh bạch tài sản, thu nhập trong quân đội. Có chủ trương, quan điểm nhất quán, phù hợp trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đó là vừa kiên quyết, kịp thời, vừa có trọng tâm, trọng điểm, lấy phòng ngừa, ngăn chặn là chính; kết hợp giữa xây và chống, xác định phòng, chống tham nhũng, lãng phí vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài.

Xây dựng và thực hiện các kế hoạch, chương trình hàng năm và dài hạn, theo quy định của Bộ Quốc phòng. Thường xuyên rà soát, kịp thời báo cáo, dề xuất cấp có thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung, ban hành các định mức, tiêu chuẩn, chế độ, định mức kinh tế kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu đồng bộ, thồng nhất, cụ thể, khả thi nhằm phòng ngừa tham nhũng, lãng phí.

Tăng cường chỉ đạo các hoạt động kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết và việc phối hợp trong công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Quá trình thực hiện cần chủ động phát hiện những vướng mắc, bất cập, kịp thời phản ánh, đề xuất, kiến nghị cấp có thẩm quyền để hướng dẫn thi hành.

Biểu dương khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích trong phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; bảo vệ những người có công phát hiện, ngăn ngừa các hành vi gây lãng phí; xử lí nghiêm minh, kịp thời đối với hành vi lãng phí, vi phạm các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

KẾT LUẬN

Trong những năm qua, cả nước ta, trên toàn hệ thống chính trị, đều nỗ lực và quyết liệt đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, và thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Thành quả bước đầu chúng ta đạt được là rất đáng ghi nhận, như tinh giản được nhiều biên chế tại các thành phố lớn, nhất là ở Thủ đô Hà Nội. Năng suất lao động bình quân của chúng ta được tăng lên, nhiệu vụ án tham những đã được khởi tố, xét xử, thu nộp ngân sách hàng nghìn tỉ đồng, dư luận trong nước ngày càng đặt nhiều niềm tin vào tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên chúng ta cũng cần nhìn nhận lại rằng, tình trạng tham nhũng và thực hành tiết kiệm là một trong những nguy cơ, rào cản lớn trên con đường phát triển của đất nước, và chúng ta phải đấu tranh lâu dài, không ngừng nghỉ với tệ nạn này. Trong Nhà máy của chúng ta, như tôi đã trình bày ở bên trên, trong những năm qua đã tập trung nhiều biện pháp để lãnh đạo xây dựng Nhà máy vững mạnh về chính trị, tư tưởng. Để có thể hoàn thành xuất sắc mục tiêu cao đẹp này, chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa công tác giáo dục tuyên truyền, tổ chức thực hiện pháp luật Nhà nước, quy định của Bộ Quốc phòng về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và tiêu cực thành nhiệm vụ thường xuyên của từng đơn vị.

Cấp ủy, chi bộ, chỉ huy các đơn vị chủ động thực hiện nghiêm túc, đồng thời đề xuất các giải pháp thực hiện có hiệu quả, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động đến từng cán bộ, nhân viên, người lao động trong năm 2015 và các năm tiếp theo./.

[1] Tài liệu : Quán triệt và triển khai thực hiện Luật Cư trú trong quân đội nhân dân Việt Nam, NXb. QĐND, H.2015.

[2]http://www.moit.gov.vn/vn/Pages/vanbantheochuyende.aspx?ConfigID=thamnhung&&Machuyende=thamnhung&ChudeID=70&vID=13392

[3]http://www.moit.gov.vn/vn/Pages/vanbantheochuyende.aspx?ConfigID=thamnhung&&Machuyende=thamnhung&ChudeID=70&vID=13886

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*