Luật xử lý vi phạm hành chính

I. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT XỬ LÍ VI PHẠM HÀNH CHÍNH NĂM 2012

A. SỰ CẦN THIẾT BAN HẦNH LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Được ban hành đầu tiên vào năm 1989, từng bước được hoàn thiện, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (Pháp lệnh XLVPHC) cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đã góp phần quan trọng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với các vi phạm hành chính ở nước ta, bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, an toàn xã hội để phát triển kinh tế – xã hội.

Tuy nhiên, thực tế thi hành  Pháp lệnh XLVPHC diễn ra rất phức tạp, lại chưa được theo dõi, quản lý thống nhất đã làm ảnh hưởng đến hiệu quả thi hành pháp luật và hiệu lực quản lý của Nhà nước, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và phát triển kinh tế. Qua hơn 10 năm thực hiện, Pháp lệnh XLVPHC đã bộc lộ những hạn chế, bất cập đòi hỏi phải khẩn trương nghiên cứu, điều chỉnh, nhằm đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của đời sống kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Cụ thể là:

Thứ nhất, mặc dù Pháp lệnh XLVPHC năm 1989 đã qua 04 lần sửa đổi, bổ sung (1995, 2002, 2007,[1] 2008), nhưng vẫn bộc lộ hạn chế, bất cập trước những đòi hỏi, thách thức của hoạt động quản lý nhà nước trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Bên cạnh đó, việc thiếu các quy định bảo đảm tính dân chủ, tính khách quan trong việc xem xét, quyết định việc xử phạt, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác; thủ tục xử phạt chưa bảo đảm tính công khai, các hình thức xử phạt được áp dụng chưa linh hoạt.v.v…, đã làm giảm hiệu lực và hiệu quả của một công cụ pháp lý quan trọng để cùng với pháp luật hình sự góp phần tích cực vào việc giữ gìn trật tự, kỷ cương quản lý hành chính của đất nước, an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với vi phạm hành chính, tội phạm trong thời kỳ mới.

Thứ hai, trong thời gian qua, một số luật chuyên ngành (như: Luật Chứng khoán, Luật Quản lý thuế, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng) đã trực tiếp quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức phạt, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Có thể nói rằng, các quy định này của các luật chuyên ngành cùng với nhiều nghị định xử phạt vi phạm hành chính được ban hành đã dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất và chồng chéo trong hệ thống pháp luật, tạo ra tình trạng khó kiểm soát về xử phạt vi phạm hành chính. Để góp phần giải quyết cơ bản vấn đề này đòi hỏi phải có sự đổi mới trong việc quy định về thẩm quyền, hình thức  và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính ở tầm một đạo luật mang tính luật gốc, nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật về XLVPHC.

Thứ ba, yêu cầu “thể chế kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối của Đảng, cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân…” là chủ trương lớn, xuyên suốt trong nhiều nghị quyết của Đảng về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Điều đó đòi hỏi Nhà nước cần phải quy phạm hóa các quyền tự do dân chủ, quyền con người bằng các quy định của một đạo luật. Điều này cũng phù hợp với chủ trương “Giảm dần pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và nghị định của Chính phủ quy định những vấn đề chưa có luật. Những pháp lệnh, nghị định này sau một thời gian thực hiện, được kiểm nghiệm là đúng thì hoàn chỉnh để chuyển thành luật” đã được xác định trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII.

Thứ tư, Pháp lệnh XLVPHC được ban hành từ năm 1989 trong bối cảnh nước ta chưa hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới; nhiều điều ước quốc tế chúng ta chưa có điều kiện gia nhập, do vậy, chưa phản ánh được những đặc điểm và yêu cầu đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính trong  điều kiện hội nhập quốc tế. Mặt khác, cũng chưa tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận lợi cho việc thực hiện các nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết trong các điều ước quốc tế như Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, các công ước quốc tế về quyền con người năm 1966 (Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hoá và xã hội và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị).

Những hạn chế, bất cập nêu trên đặt ra yêu cầu phải khẩn trương soạn thảo và ban hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (Luật XLVPHC).

Luật XLVPHC  được ban hành với mục tiêu nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh XLVPHC; góp phần bảo đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với vi phạm hành chính, tội phạm trong thời kỳ mới; khắc phục tối đa tình trạng thiếu thống nhất và chồng chéo trong hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận lợi cho việc thực hiện các nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết trong các điều ước quốc tế; đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của đời sống kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

B. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT

Luật xử lý vi phạm hành chính (Luật XLVPHC) được xây dựng trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo sau đây:

1.Thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng về cải cách hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp và cải cách hành chính được xác định trong các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005  của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, theo hướng: “ Hình thành cơ chế pháp lý để Chính phủ thực hiện quyền yêu cầu xem xét, xử lý bằng thủ tục tư pháp đối với mọi vi phạm nghiêm trọng được phát hiện trong quá trình quản lý, tổ chức thi hành pháp luật”, “ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng của công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án”.

  1. Quy định đầy đủ, toàn diện các vấn đề về xử lý vi phạm hành chính, bảo đảm kế thừa những quy định đã được thực tiễn kiểm nghiệm, khắc phục một cách cơ bản những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật xử lý vi phạm hành chính hiện hành thông qua việc tổng kết đánh giá thức tiễn thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong những năm qua.
  2. Tăng cường tính công khai, minh bạch và bảo đảm dân chủ trong trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp xử lý hành chính; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, đặc biệt là người chưa thành niên.
  3. Bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và đáp ứng  yêu cầu cải cách bộ máy nhà nước; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp của các nước trong khu vực và trên thế giới.

C. BỐ CỤC VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH NĂM 2012

Luật XLVPHC gồm có 06 phần, 12 chương và 142 điều, cụ thể như sau:

  1. Phần thứ nhất: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 20);
  2. Phần thứ hai: Xử phạt vi phạm hành chính (gồm 03 chương, 68 điều, từ Điều 21 đến Điều 88);
  3. Phần thứ ba: Các biện pháp xử lý hành chính (gồm 05 chương, 30 điều từ Điều 89 đến Điều 118);
  4. Phần thứ tư: Các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính (gồm 2 chương, 14 điều từ Điều 119 đến Điều 132);
  5. Phần thứ năm: Những quy định đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính (gồm 2 chương, 8 điều từ Điều 133 đến Điều 140)
  6. Phần thứ sáu: Điều khoản thi hành (gồm 2 điều: Điều 141 và Điều 142),

Do thời gian có hạn, hôm nay tôi xin giới thiệu đến các đồng chí một số nội dung cơ bản, quan trọng trong Luật xử lí vi phạm hành chính năm 2012 và một số hình thức, mức độ xử phạt vi phạm hành chính như sau:

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

1. Về phạm vi điều chỉnh của Luật XLVPHC

Xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử  lý hành chính là hai nội dung tương đối độc lập, có sự khác biệt về đối tượng áp dụng (đối tượng bị xử phạt, đối tượng bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính), về thẩm quyền, thủ tục xử phạt cũng như thẩm quyền, thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, kế thừa Pháp lệnh XLVPHC, phạm vi điều chỉnh của Luật XLVPHC  vẫn được giữ nguyên, bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính mà không tách thành Luật về xử phạt vi phạm hành chính và Luật về các biện pháp xử lý hành chính

2. Về một số nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính

Nguyên tắc là những nội dung cơ bản nhất, quan trọng nhất chi phối mọi hoạt động trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính cũng như quá trình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Những nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính đã được quy định lần đầu tiên tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 và được kế thừa, bổ sung tại Pháp lệnh XLVPHC năm 1995 và năm 2002.

Do sự độc lập giữa xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, Điều 3 quy định về nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính được tách thành hai khoản, trong đó khoản 1 quy định các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính và khoản 2 quy định các nguyên tắc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.

Qua thực tế thi hành pháp Luật XLVPHC , các nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính được quy định trong Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 đã được khẳng định là cần thiết và đúng đắn, do đó, được tiếp tục quy định tại Luật XLVPHC  như nguyên tắc: mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra đều phải được khắc phục; việc xử lý vi phạm phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định hình thức, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả thích hợp.

Bên cạnh đó, một số nguyên tắc mới được quy định trong Luật XLVPHC  để làm cơ sở cho việc quy định các nội dung về xử lý vi phạm hành chính trong toàn bộ đạo luật, cũng như trong hoạt động xây dựng và áp dụng pháp Luật XLVPHC  trên thực tiễn như: nguyên tắc bảo đảm công bằng, công khai, khách quan, tôn trọng quyền giải trình của cá nhân, tổ chức; nguyên tắc người có thẩm quyền xử phạt, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm chứng minh hành vi vi phạm bằng việc áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ việc một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, cá nhân, tổ chức bị xử phạt, cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính…..Để phân định mức phạt tiền giữa cá nhân và tổ chức vi phạm, phù hợp với tính chất vi phạm, một trong những nguyên tắc mới được quy định tại Luật XLVPHC  là “đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng hai lần mức phạt tiền đối với cá nhân”.

Việc bổ sung những nguyên tắc này là rất cần thiết để khắc phục thực trạng cơ quan hành chính ban hành quyết định xử phạt mang tính đơn phương, áp đặt ý chí chủ quan của người có thẩm quyền xử phạt. Mặt khác, việc xử lý vi phạm hành chính liên quan trực tiếp đến danh dự, quyền tự do cơ bản của công dân, cần được tiến hành dân chủ, khách quan, chính xác trên cơ sở xác minh rõ vụ việc, Quan trọng hơn, việc bổ sung những nguyên tắc này nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về quyền tự do cơ bản của công dân: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” (Điều 52 Hiến pháp 1992).

3. Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước và chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính

Thẩm quyền quy định hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, hình thức và mức phạt đối với vi phạm hành chính đã được Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 giao Chính phủ quy định. Thực tiễn xử phạt vi phạm hành chính trong những năm qua cho thấy, việc giao Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước là rất cần thiết và hợp lý, vì Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất; Chính phủ, các cơ quan của Chính phủ luôn nắm bắt được các yêu cầu của công tác quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển cụ thể. Để đáp ứng được các yêu cầu, đòi hỏi của thực tế quản lý nhà nước, Chính phủ luôn chủ động ban hành nhiều nghị định quy định xử phạt trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước, nhờ vậy trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý nhà nước luôn được đảm bảo. Đây là một trong các điều kiện tiên quyết để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng và trật tự, an toàn xã hội. Trong điều kiện đất nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế, các quan hệ xã hội luôn luôn biến động, các hành vi vi phạm pháp luật cũng luôn thay đổi, phát sinh, do đó, việc giao thẩm quyền cho Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức và mức phạt đối với từng vi phạm hành chính là rất cần thiết, vì Chính phủ là cơ quan hoạt động thường xuyên, còn Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất nhưng lại hoạt động không chuyên trách, không có điều kiện kịp thời sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật để xử lý ngay và có hiệu quả đối với các vi phạm đang diễn ra phức tạp trong các lĩnh vực quản lý nhà nước.

Trên tinh thần đó, Điều 4 Luật XLVPHC  quy định: Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước; chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính và quy định mẫu biên bản, mẫu quyết định sử dụng trong xử phạt vi phạm hành chính.

4. Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính

Việc xác định đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính được căn cứ vào một số yếu tố như: đặc điểm tâm sinh lý, khả năng nhận thức của các đối tượng, thực tế vi phạm hành chính của các đối tượng…. Theo một số tiêu chí này, Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2008) cũng như Luật XLVPHC  đã quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi vi phạm hành chính được thực hiện do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi hành vi vi phạm hành chính do mình gây ra. Người chưa đủ 14 tuổi vi phạm hành chính sẽ được nhắc nhở, giáo dục tại gia đình, có nghĩa là họ không bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Đối tượng bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính được quy định cụ thể tại Phần thứ ba của Luật.

Đối với các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang, nếu như Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2008) chỉ quy định “Quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện và những người thuộc lực lượng Công an nhân dân vi phạm hành chính thì bị xử lý như đối với các công dân khác”, thì ở Luật XLVPHC  đối tượng thuộc các lực lượng vũ trang được mở rộng hơn với quy định: “Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm hành chính thì bị xử lý như đối với công dân khác”.

Luật XLVPHC  cũng quy định cụ thể hơn so với Pháp lệnh XLVPHC về trường hợp: cá nhân, tổ chức nước ngoài bị xử phạt vi phạm hành chính khi vi phạm hành chính trong phạm vi vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam (trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác); công dân, tổ chức Việt Nam vi phạm pháp luật hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật.

Bên cạnh đó, Luật XLVPHC  vẫn kế thừa quy định của Pháp lệnh XLVPHC về đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính là tổ chức (điểm b khoản 1 Điều 5).

5. Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính và thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính

5.1. Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính

  1. a) Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính

Luật XLVPHC  đã thể hiện tập trung, đồng thời phân loại các loại thời hiệu (xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính) tại Điều 6 của Luật trên cơ sở kế thừa các loại thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính của Pháp lệnh XLVPHC (có mở rộng, xác định các trường hợp cụ thể, chi tiết hơn so với Pháp lệnh XLVPHC) và các Luật khác có quy định về thời hiệu, ví dụ: “Vi phạm hành chính là hành vi trốn thuế, gian lận thuế, nộp chậm tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về thuế”.

Luật XLVPHC  cũng có bổ sung quan trọng về cách xác định thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nhằm khắc phục hạn chế của Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2008). Cụ thể, đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm; đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm.

Đối với trường hợp xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến, Luật quy định rõ thời điểm tính thời hiệu được áp dụng chung như đối với các vi phạm khác và nhấn mạnh thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Đây là thay đổi cơ bản so với Pháp lệnh XLVPHC. Pháp lệnh XLVPHC quy định thời hiệu trong trường hợp này chỉ tính là ba tháng, kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm mà không quy định rõ là thời hạn ba tháng này có nằm trong thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính hay không.

Một trong những hạn chế của Pháp lệnh XLVPHC là cách tính thời hiệu không có lợi cho người vi phạm trong trường hợp họ thực hiện vi phạm hành chính mới trong cùng lĩnh vực trước đây đã vi phạm[2], Luật bỏ quy định về tính lại thời hiệu trong trường hợp này mà chỉ quy định tính lại trong trường hợp cá nhân, tổ chức cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

  1. b) Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính

Thay vì quy định tại các điều cụ thể như Pháp lệnh, Luật XLVPHC  quy định thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Phần Những quy định chung.

Về cơ bản, thời hiệu áp dụng các biện pháp này được giữ nguyên như Pháp lệnh XLVPHC. Điểm mới cơ bản là thời hiệu áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy được rút ngắn hơn so với Pháp lệnh XLVPHC, từ 06 tháng xuống 03 tháng .

5.2. Thời hạn được coi là chưa bị  xử lý  hành chính

Luật XLVPHC  quy định thời hạn được coi là chưa bị  xử lý  hành chính theo hướng rút ngắn hơn so với quy định của Pháp lệnh XLVPHC: đối với cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; đối với cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

6. Cách tính thời gian, thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính

Luật XLVPHC  quy định cách tính thời gian, thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp tại một số điều của Luật quy định là ngày làm việc. Đây là điểm mới so với cách tính trước đây, thời gian tính theo ngày không được hiểu chung là ngày làm việc, không bao gồm ngày nghỉ. Chỉ khi Luật quy định “ngày làm việc” thì khoảng thời gian đó mới được tính là ngày làm việc, không bao gồm ngày nghỉ theo quy định của Bộ luật Lao động[3].

7. Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ

Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính được quy định trong Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989, được kế thừa và có bổ sung tại Pháp lệnh XLVPHC năm 1995 và năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2008). Các quy định này tiếp tục được kế thừa, mở rộng tại Luật XLVPHC . Đây là các tình tiết mà người có thẩm quyền xử phạt cần đánh giá, xem xét để quyết định hình thức, mức xử phạt cho phù hợp để đảm bảo nguyên tắc công bằng trong xử phạt vi phạm hành chính (một trong những nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt trong quá trình xử lý vi phạm hành chính), làm căn cứ ban hành quyết định xử phạt phù hợp với nhân thân người vi phạm, bảo đảm việc xử phạt phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm; đồng thời khuyến khích người vi phạm thành thật khai báo… để được áp dụng hình thức, mức phạt nhẹ hơn mức phạt thông thường, vì theo quy định vi phạm hành chính có tình tiết giảm nhẹ sẽ bị phạt tiền đến mức thấp nhất của khung tiền phạt; vi phạm hành chính có tình tiết tăng nặng sẽ bị phạt đến mức tối đa của khung tiền phạt. Trong thực tiễn, cũng là vi phạm hành chính nhưng cũng có người vi phạm lần đầu hoặc mặc dù vi phạm nhưng họ đã thành thật hối lỗi, tự nguyện khắc phục hậu quả hoặc tích cực giúp cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt xác minh vụ việc hay giúp ngăn chặn, làm giảm tác hại do vi phạm gây ra; ngược lại có đối tượng vi phạm nhiều lần, tái phạm, thậm chí vi phạm với quy mô lớn, có tổ chức, có tính chất côn đồ, vi phạm đối với nhiều người, trẻ em, người già, người khuyết tật, phụ nữ mang thai hoặc lăng mạ, phỉ báng người thi hành công vụ, sau khi vi phạm đã cố tình che giấu hành vi vi phạm, gây khó khăn cho cơ quan, người có thẩm quyền trong việc xác minh vụ việc

Khác với Pháp lệnh XLVPHC, Luật XLVPHC  đã có bổ sung quan trọng trong việc xác định nguyên tắc áp dụng các tình tiết tăng nặng để làm cơ sở xem xét xử phạt vi phạm hành chính, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong từng lĩnh vực, đó là những tình tiết đã được quy định là hành vi vi phạm hành chính thì không được coi là tình tiết tăng nặng để tránh sự lúng túng của người có thẩm quyền trong quá trình áp dụng pháp luật (khoản 2 Điều 10).

8. Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính

Nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất pháp Luật XLVPHC  trong thực tiễn, trên cơ sở kế thừa các quy định tại khoản 6 Điều 3 Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2008) về các trường hợp không xử lý vi phạm hành chính và trên cơ sở kết quả khảo sát, đánh giá, tổng kết công tác thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong thời gian qua, Luật XLVPHC  đã quy định bổ sung một điều (Điều 11) quy định về những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính bao gồm các vi phạm trong tình thế cấp thiết; do phòng vệ chính đáng; do sự kiện bất ngờ; do sự kiện bất khả kháng hoặc đối tượng thực hiện hành vi vi phạm không có năng lực trách nhiệm hành chính hay do chưa đủ tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính.

9. Những hành vi bị nghiêm cấm

Có thể nói, đây là quy định mới, tiến bộ của Luật XLVPHC  mà Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989, Pháp lệnh XLVPHC năm 1995 và ngay cả Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2008) cũng chưa đề cập tới những hành vi bị nghiêm cấm trong xử lý vi phạm hành chính. Để hạn chế tối đa việc vi phạm pháp luật, lạm quyền của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong khi thi hành công vụ, Luật cũng quy định bổ sung một điều về các hành vi bị nghiêm cấm trong xử lý vi phạm hành chính bao gồm 12 khoản, trong đó 11 khoản quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính  (Điều 12 Luật XLVPHC ).

10. Trách nhiệm quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

Xử lý vi phạm hành chính liên quan trực tiếp đến quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, từ trước tới nay, công tác quản lý việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính chưa được quy định trong các Pháp lệnh, từ Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 đến Pháp lệnh XLVPHC năm 2002, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh XLVPHC năm 2008. Vì vậy, vấn đề quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đã được đặt ra trong quá trình nghiên cứu soạn thảo dự án Luật XLVPHC . Trên cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu soạn thảo, tổng kết việc thi hành các Pháp lệnh về xử lý vi phạm hành chính, Quốc hội đã quy định trách nhiệm quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tại Điều 17 của Luật, theo đó, Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Bộ Tư pháp được giao trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Những nhiệm vụ quy định tại Điều 17  hoàn toàn phù hợp với chức năng của Bộ Tư pháp. Mặt khác, việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính liên quan trực tiếp đến nhiều cơ quan khác của Nhà nước, do đó, Điều 17 của Luật XLVPHC  còn quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, của Uỷ ban nhân dân các cấp, của Tòa án nhân dân trong quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, trách nhiệm của cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính gửi các văn bản, quyết định tới cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính.

11. Trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác xử lý vi phạm hành chính

Mặc dù đây không phải là một quy định mới, song Luật XLVPHC  cũng đã có những bổ sung nhất định so với Pháp lệnh XLVPHC. Bên cạnh các nội dung quy định về trách nhiệm kiểm tra, thanh tra việc xử lý vi phạm hành chính của người có thẩm quyền nhằm hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính và trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật, Điều 18 của Luật XLVPHC  quy định rõ thủ trưởng cơ quan, đơn vị không được can thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm hành chính và phải chịu trách nhiệm liên đới về hành vi vi phạm của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thuộc quyền quản lý trực tiếp của mình theo quy định của pháp luật. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị không được để xảy ra hành vi tham nhũng của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính do mình quản lý, phụ trách. Không chỉ vậy, Luật cũng quy định thêm trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và phải kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền.

II. XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

1. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả

Hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả trong Luật XLVPHC  được quy định trên cơ sở kế thừa các hình thức xử phạt và biện pháp được quy định tại Pháp lệnh XLVPHC; có sửa đổi, bổ sung để khắc phục những hạn chế, bất cập trong thực tiễn thi hành trong thời gian vừa qua.

Về cơ cấu, quy định về các hình thức xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả được tách ra thành hai mục riêng, trong mỗi mục có một điều quy định chung về các hình thức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả và nguyên tắc áp dụng; các điều cụ thể quy định về từng hình thức xử phạt, từng biện pháp khắc phục hậu quả. Cách quy định khoa học này sẽ tạo thuận lợi hơn trong quá trình thi hành Luật.

1.1. Các hình thức xử phạt và nguyên tắc áp dụng

Về cơ bản, các hình thức xử phạt được quy định và phát triển dựa trên kết cấu các hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung của Pháp lệnh XLVPHC, trong đó, hình thức xử phạt cảnh cáo và phạt tiền vẫn giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống hình thức xử phạt chính để làm cơ sở cho việc giao Chính phủ quy định hình thức xử phạt áp dụng đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính cụ thể tại các nghị định. Điều này thể hiện qua việc quy định hai hình thức xử phạt này chỉ được áp dụng là hình thức xử phạt chính.

Bên cạnh đó, hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn được bổ sung nội dung đình chỉ hoạt động có thời hạn để giải quyết thực trạng cần có biện pháp xử lý phù hợp đối với các cơ sở kinh doanh hoạt động không yêu cầu phải có giấy phép hoặc chỉ vi phạm một phần nội dung giấy phép.

Nhằm bảo đảm hình thức xử phạt được áp dụng phù hợp với tính chất, mức độ của mỗi hành vi vi phạm, hệ thống các hình thức xử phạt của Luật được thiết kế đa dạng hơn bao gồm 05 hình thức xử phạt (khoản 1 Điều 21) với nguyên tắc áp dụng linh hoạt (khoản 2 Điều 21). Bên cạnh quy định hình thức trục xuất có thể được áp dụng là hình thức xử phạt chính hoặc bổ sung như Pháp lệnh XLVPHC, Luật bổ sung hai hình thức nữa vừa là hình thức xử phạt chính, vừa là hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. Quy định này có tính linh hoạt hơn quy định của Pháp lệnh XLVPHC, hình thức xử phạt sẽ được quy định và áp dụng phù hợp hơn với tính chất, mức độ của mỗi hành vi vi phạm. Theo quy định này, Chính phủ có thể lựa chọn nhiều hình thức xử phạt khác nhau làm hình thức xử phạt chính (có thể tới 05 hình thức) hoặc các hình thức xử phạt bổ sung (có thể tới 3 hình thức) đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính để quy định tại Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước.

1.2. Hình thức xử phạt cảnh cáo

Trên cơ sở giữ nguyên tinh thần của Pháp lệnh XLVPHC quy định điều kiện để áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo và giao cho người thi hành pháp luật quyết định áp dụng trong từng trường hợp thực tế cụ thể như “hình thức xử phạt cảnh cáo chỉ được áp dụng đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi”. Luật bổ sung quy định làm rõ thêm việc cá nhân, tổ chức vi phạm thực hiện hành vi vi phạm hành chính là vi phạm không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo khi có quy định về việc áp dụng hình thức xử phạt này, có nghĩa là Nghị định của Chính phủ quy định hành vi vi phạm cụ thể bị xử phạt cảnh cáo thì người có thẩm quyền mới được áp dụng hình thức xử phạt này. Về cơ bản, quy định này sẽ giải quyết được vướng mắc trong thực tiễn, làm cơ sở để giải quyết khiếu nại về việc người có thẩm quyền không quyết định áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo trong trường hợp người vi phạm có đầy đủ các yếu tố để có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo như vi phạm lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ… nhưng nghị định lại không quy định hình thức xử phạt cảnh cáo.

1.3. Hình thức xử phạt tiền và mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước

1.3.1. Hình thức xử phạt tiền (Điều 23)

Khoản 1 Điều 23 của Luật đã tăng mức phạt tối thiểu và tối đa nhằm bảo đảm hiệu quả của việc xử phạt vi phạm hành chính, đáp ứng yêu cầu phòng, chống vi phạm hành chính trong giai đoạn hiện nay. Mức phạt tối thiểu được điều chỉnh từ 10.000 đồng lên 50.000 đồng, mức phạt tối đa được điều chỉnh lên 2.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, mức phạt tối đa đến 2.000.000.000 đồng chỉ được áp dụng đối với tổ chức trong các lĩnh vực: quản lý các vùng biển, đảo và thềm lục địa; quản lý hạt nhân và chất phóng xạ, năng lượng nguyên tử; tiền tệ, kim loại quý, đá quý, ngân hàng, tín dụng; thăm dò, khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác; bảo vệ môi trường.

Bên cạnh đó, để bảo đảm tính thống nhất với quy định của các luật đặc thù có quy định mức xử phạt tiền tính theo số lần giá trị hàng hóa, tang vật vi phạm (ví dụ Luật quản lý thuế, Luật sở hữu trí tuệ…), Luật XLVPHC  quy định theo hướng áp dụng mức phạt tiền tối đa theo quy định của các luật trong lĩnh vực thuế; đo lường; sở hữu trí tuệ; an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chứng khoán; hạn chế cạnh tranh.

Luật đã luật hóa quy định về cách thức xác định mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính đã được quy định tại Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh XLVPHC năm 2008 do quy định này đã được thực hiện ổn định và hiệu quả trong nhiều năm qua.

1.3.2. Quy định mức phạt tiền cao hơn mức phạt chung áp dụng đối với cùng một hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ; bảo vệ môi trường; an ninh trật tự, an toàn xã hội tại khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc trung ương và thẩm quyền quy định mức phạt

Xuất phát từ yêu cầu quản lý đô thị ở các thành phố trực thuộc trung ương, vi phạm hành chính phổ biến, diễn biến phức tạp và thường gây ra hậu quả lớn do mật độ dân cư cao, việc áp dụng mức xử phạt tiền chung theo quy định của Pháp lệnh XLVPHC là không đủ sức răn đe, không đạt được hiệu quả và yêu cầu như mong muốn, Luật bổ sung nội dung quy định mức phạt tiền cao hơn đối với cùng một hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ; bảo vệ môi trường; an ninh trật tự, an toàn xã hội tại khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc trung ương. Trong thực tiễn, quy định về mức phạt tiền cao hơn đã được quy định và áp dụng trong lĩnh vực giao thông đường bộ[4].

Trên tinh thần này, đoạn 2 khoản 1 Điều 23 Luật ghi nhận cơ chế xử phạt đặc thù đối với các thành phố trực thuộc Trung ương, theo đó, đối với khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương, mức phạt tiền trong lĩnh vực giao thông đường bộ; bảo vệ môi trường; an ninh trật tự, an toàn xã hội có thể được quy định cao hơn nhưng không quá 02 lần mức phạt chung áp dụng đối với cùng hành vi vi phạm đã được quy định tại nghị định của Chính phủ. Về thẩm quyền quy định mức phạt cao hơn, Luật thể hiện theo hướng, trên cơ sở khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính đã được quy định tại nghị định của Chính phủ, Hội đồng nhân dân các thành phố trực thuộc Trung ương quy định khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt cao hơn nhằm bảo đảm mức phạt phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội, phù hợp với điều kiện đặc thù của từng thành phố, thuận tiện cho công tác giám sát việc thi hành quy định mức phạt tại địa phương.

1.4. Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn

Pháp lệnh XLVPHC chỉ quy định hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề đối với hành vi vi phạm nghiêm trọng. Tuy nhiên, trên thực tiễn, nhiều tổ chức, cá nhân hoạt động, kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không quy định điều kiện hoạt động, kinh doanh là phải có giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Chính vì vậy, khi cá nhân, tổ chức đó vi phạm ở mức độ nghiêm trọng, gây hậu quả hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả tới môi trường và tính mạng, sức khỏe con người, trật tự, an toàn xã hội, cần thiết phải đình chỉ hoạt động một phần (đối với phần hoạt động vi phạm) hoặc toàn bộ hoạt động vi phạm thì không có chế tài xử phạt tương xứng. Vì lý do này, Luật XLVPHC  đã bổ sung hình thức xử phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn bên cạnh hình thức tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Đây là biện pháp hợp lý để xử lý đối với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất vi phạm hành chính nhưng theo quy định pháp luật họ không cần phải có giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Bên cạnh đó, thực tiễn xử phạt vi phạm hành chính đối với một số doanh nghiệp lớn cho thấy nếu tước quyền sử dụng giấy phép của những doanh nghiệp này sẽ gây ảnh hưởng lớn đến việc phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, cũng như việc làm và thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp. Vì lý do này, Luật đưa ra hình thức xử phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn được áp dụng trong trường hợp hành vi vi phạm phát sinh từ hoạt động, vận hành của một quy trình, bộ phận nhất định của một doanh nghiệp, nhà máy lớn chứ không phải toàn bộ doanh nghiệp, nhà máy đó, không cần thiết phải tước giấy phép hoạt động để tránh việc gián đoạn hoạt động sản xuất, kinh doanh của các bộ phận khác trong doanh nghiệp.

  1. MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH THUỘC LĨNH VỰC DO BỘ QUỐC PHÒNG QUẢN LÝ

Trên cở sở các nội dung của Luật Xử lí vi phạm hành chính, ngày 9 thàng 10 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 120/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Quốc phòng, cơ yếu (sau đây gọi tắt là nghị định 120/2013/NĐ-CP). Tôi xin giới thiệu với các đồng chí một số nội dung cơ bản như sau:

  1. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng cơ yếu.

Trên cơ sở các nội dụng  của Luật Xử lý vi phạm hành chính, ngày 9 tháng 10 năm 2013 Chính phủ ban hành Nghị định số 120/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu (sau đây viết gọn là Nghị định số 120/2013/NĐ-CP), Nghị định gồm 04 chương, 52 điều; có hiệu lực thi hành kể từ ngày 22 tháng 11 năm 2013 và thay thế Nghị định số 151/2003/NĐ-CP ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng. Trong đó:

Chương 1 – Những quy định chung, gồm 03 điều, từ Điều 1 đến Điều 3;

Chương 2 – Xử phạt hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, gồm 40 điều, từ Điều 4 đến Điều 43;

Chương 3 – Xử phạt hành chính trong lĩnh vực cơ yếu, gồm 06 điều, từ Điều 44 đến Điều 49;

Chương 4 Điều khoản thi hành, gồm 03 điều, từ Điều 50 đến Điều 52.

  1. Những quy định chung (Chương 1)

1.1 Phạm vi điều chỉnh

Nghị định số 120/2013/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt và thẩm quyềnlậpbiên bản  đối  với yi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng,cơ yếu.

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng bao gồm: Vi phạm quy định về thực hiện nghĩa vụ quân sự; về lực lượng dự bị động viên; về động viên công nghiệp; về hoạt động công nghiệp quốc phòng; về dân quân tự vệ; về bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự; lấn chiếm đất quốc phòng, đất ở, nhà do Quân đội quản lý; về sử dụng giấy phép lái xe quân sự,biển số mô tô,biển số ô tô,biển số phương tiện vận tải quân sự; về sử dụng, mua, bản , sản xuất quân trang vàbiển công tác, cờ hiệu.

Vi phạm hành chính , trong lĩnh vực cơ yếu bao gồm: Vi phạm quy định về sử dụng sản phẩm mật mã không do Ban Cơ yếu Chính phủ cung cấp để bảo vệ thông tin thuộc phạm vi bí mật Nhà nước; về bảo vệ bí mật Nhà nước khi truyền thông tin mật bằng phương tiện thông tin, viễn thông hoặc lưu giữ thông tin mật bằng thiết bị điện tử, tin học mà không mã hóa bằng mật mã của cơ yếu; về thời hạn không được tham gia hoạt động mật mã và quy định về sản xuất, cung cấp sản phẩm mật mã để bảo vệ thông tin thuộc phạm vi bí mật Nhà nước.

Các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu quy định tại các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính về đất đai; y tế; bảo hiểm xã hội; giao thông; xây dựng; quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; an ninh, trật tự, an toàn xã hội và các lĩnh vực khác được xử phạt theo quy định tại các nghị định đó (Điều 1).

1.2. Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu và mức phạt tiền đối  với cá nhân, tổ chức:

Thời hiệu: Nghị định quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu là 01 năm. Riêng thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về quản lý đất quốc phòng, đất ở, nhà ở do quân đội quản lý; công trình quốc phòng và khu quân sự 1 là 02 năm.

Mức phạt tiền đối  với cá nhân, tổ chức:

Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quốc phòng,

Cơ yếu được quy định như sau: Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quốc phòng đối  với cá nhân là 75.000.000 đồng, đối  với tổ chức là 150.000.000 đồng. Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực cơ yếu đối  với cá nhân là 50.000.000 đồng, đối  với tổ chức là 100.000.000 đồng.

Mức phạt tiền được quy định cụ thể trong Nghị định này là mức phạt đối  với cá nhân. Đối  với cùng môt hành vi vi phạm hành chính mức phạt tiền đối  với tổ chức bằng 02 . lần mức phạt tiền đối  với cá nhân. Đồng thời quy định thẩm quyềnphạt tiền của các chức danh tại Nghị định này là thẩm quyềnđối  với cá nhân; thẩm quyềnphạt tiền đối  với tổ chức bằng 02 lần thẩm quyềnphạt tiền đối  với cá nhân.

Thông tư số 95/2014/TT-BQP ngày 07 tháng 7 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hướng dẫn thi hành Nghị định số 120/2013/NĐ-CP (sau đây viết gọn là Thông tư số 95/2014/TT-BQP) quy định việc xác định mức tiền phạt trong các trường hợp cụ thể như sau:

Thứ nhất, mức tiền phạt cụ thể đối  với một hành vi vi phạm hành chính không có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ là mức trung bình của khung hình phạt được quy định đối  với hành vi đó. Mức trung bình của khung tiền phạt được xác định bằng trung bình giữa mức tối đa của khung tiền phạt và mức tối thiểu của khung hình phạt.

Thứ hai,  đối  với hành vi vi phạm hành chính có tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì mức tiền phạt có thể dược giảm xuống thấp hơn số với mức trung bình của khung hình phạt nhưng không được thấp hơn mức tối thiểu của khung hình phạt đó; nếu có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì mức tiền phạt có thể tăng trên mức trung bình của khung hình phạt nhưng không được cao hơn mức tối đa của khung hình phạt đó.

Đối với hành vi vi phạm hành chính vừa có tình tiết giảm nhẹ, vừa có tình tiết tăng nặng thì xem xét theo nguyên tắc giảm trừ, cứ một tình tiết giảm nhẹ được giảm trừ một tình tiết tăng nặng. Sau khi giảm trừ nếu không còn tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì xác định mức tiền phạt theo trường hợp thứ nhất; trường hợp còn tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ thì xác định mức tiền phạt theo trường hợp thứ hai.

  1. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng (Chương 2)

2.1. Hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt vàbiênpháp khắc phụchậu quả về thưc hiên nghĩa vụ quân sự (Mục 1)

Mục này quy định các hành vi vi phạm quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự; sơ tủy ển thực hiện nghĩa vụ quân sự; về kiểm tra, khám sức khởe thực hiện nghĩa vụ quân sự; về nhập ngũ; về thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ; về thực hiện nghĩa vụ quân sự. Hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục với từng hành vi cụ thể.

Một số hành vi vi phạm, hình thức xử phạt vàbiênpháp khắc phục hậu quả về thực hiện nghĩa vụ quân sự như sau:

  1. a) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Đào ngũ khi đang làm nghĩa vụ quân sự phục vụ tại ngũ trong thời bình nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng, mà đơn vị quân đội Cấp Trung đoàn và tương đương đã gửi giấy thông báo đào ngũ và 1 cắt quân số cho ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan , quân sự cấp huy ện; chứa chấp, bao che quân nhân đào ngũ. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc hoàn trả toàn bộ quân trang được cấp và buộc phải thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự (Điều 8).

Thông tư số 95/2014/TT-BQP quy định hành vi chứa chấp, bao che quân nhân đào ngũ là một trong các hành vi sau: Để quân nhân đào ngũ ở nhà mình hoặc ở cơ quan, tổ chức mà không khai báo với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền. Đưa quân nhân đào ngũ đi trốn hoặc cung cấp phương tiện, vật chất để quân nhân đào ngũ lẩn trốn. Làm các giấy tờ để hợp thức cho hành vi đào ngũ. Đồng thời quy định “buộc thực hiện nghĩa vụ theo quy định cua Luật Nghĩa vụ quân sự” là công dân tiếp tục phải thực hiện các quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, sơ tủy ển, kiểm tra sức khởe thực hiện nghĩa vụ quân sự, nhập ngũ theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự.

  1. b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không tiếp nhận lại công dân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về cơ quan, tổ chức cũ làm việc.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiếp nhận lại công dân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về cơ quan, tổ chức cũ làm việc đối  với hành vi không tiếp nhận lại công dân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về cơ quan, tổ chức cũ làm việc (Điều 9).

2.2. Hành vi vi phạm  hành chính, hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả về lưc lượng dự bị động viên (Mục 2)

Mục này quy định các hành vi vi phạm quy định về đăng ký sĩ quan dự bị; về đào tạo sĩ quan dự bị; về tập trung huấn lủy ện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu; về đăng ký phương tiện kỹ thuật; về huy  động phương tiện kỹ thuật. Hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả. Trong đó: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối  với hành vi không bố trí lại công việc cho quân nhân dự bị đã hoàn thành việc tập trung huấn lủy ện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấutrở lại cơ quan, tổ chức cũ công tác.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc bố  trí lại công việc cho quân nhân dự bị trở về cơ quan, tổ chức cũ công tác đối  với hành vi không bố trí lại công việc cho quân nhân dự bị đã hoàn thành việc tập trung huấn lủy ện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu trở lại cơ quan, tổ chức cũ công tác.

2.3. Hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt vàbiênpháp khắc phục hậu quả về động viên công nghiệp (Mục 3)

Mục này quy định về các hành vi vi phạm quy định về động viên công nghiệp; về quản lý, sử dụng trang bị, tài liệu công nghệ phục vụ động viên công nghiệp ; về sản phẩm động viên công nghiệp. Hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối  với hành vi vi phạm. Trong đó: Phạt tiền từ  10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối  với một trong các hành vi vi phạm sau: Khai thác công dụng của trang thiết bị ngoài kế hoạch động viên công nghiệp không đúng nội dụng , thời hạn cho phép; sử dụng tiền trích khấu hao tài sản do Nhà nước đầu tư không đúng mục đích.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc hoàn trả số tiền trích khấu hao tài sản đã đầu tư sai mục đích đối  với hành vi sử dụng tiền trích khấu hao tài sản do Nhà nước đầu tư không đúng mục đích (Điều 16),

2.4. Hành vi vi phạm  hành chính hình thức xử phạt vàbiênpháp khắc phục hậu quả về hoat động công nghiệp quốc phòng (Mục 4)

Mục này quy định về hành vi vi phạm quy định về hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện tham gia hoạt động công nghiệp quốc phòng; về Sử dụng giấy chứng nhận đủ điểu kiện tham gia hoạt động công nghiệp quốc phòng; về thực hiện hoạt động công nghiệp quốc phòng.

2.5. Hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử  phạt và biện pháp khắc phục hậu quả về dân quân tự vệ (Mục 5)

Mục này quy định các hành vi vi phạm quy định về tổ chức dân quân tự vệ; về huấn lủy ện dân quân tự vệ; về giả danh dân quân tự vệ nòng cót sử dụng dân quân tự vệ, cản trở dân quân tự vệ thực hiện nhiệm vụ; về quản lý vũ khí trang bị.

2.6. Hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử  phạt và biện pháp khắc phục hậu quả về bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân Sự, lấn chiếm đất quốc phòng, đất ở, nhà ở do quân đội quản lý (Mục 6)

Mục này quy định các hành vi vi phạm quy định đi lại, cư trú, sản xuất kinh doanh bất hợp  pháp trong khu vực cấm, khu bảo vệ, vành đai an toàn của công trình quốc phòng, khu quân sự; về bảo vệ bí mật công trình quốc phòng và khu quân sự; về bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự; về sử dụng công trình và khu quân sự; vế lấn chiếm đất quốc phòng, đất ở, nhà ở do quân đội quản lý.

Một số hành vi vi phạm cụ thể như sau:

  1. a) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000 đồng đối với hành vi sử dụng thiết bị, vật tư chuyêndùng của công trình quốc phòng không đúng mục đích.
  2. b) Phạt tiển từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng công trình quốc phòng, khu quân sự vào mục đích khác khi không được phép của cấp có thẩm quyền.
  3. c) Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi cải tạo công trình quốc phòng, khu quân sự khi chưa được phép của cấp có thẩm quyền.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc khôi phục  tình trạng ban đầu của công trình quốc phòng đối   với hành vi sử dụng công trình quốc phòng, khu quân Sự vào mục đích khác khi không được phép của cấp có thẩm quyền(Điều 28).

  1. d) Phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định về đất ở, nhà ở do quân đội quản lý như sau: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi lấn chiếm đất ở, nhà ở do quân đội quản lý có giá trị quyềnsử dụng đất đối  với diện tích đất bị vi phạm quy thành tiền dưới 200.000.000 đồng; phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối  với hành vi lấn chiếm đất ở, nhà ở do quân đội quản lý có giá trị quyềnsử dụng đất đối  với diện tích đất bị vi phạm quy thành tiền từ 200.000.000 đồng đến dưới 400.000.000 đồng; phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối   với hành vi lấn chiếm đất ở, nhà ở do quân đội quản lý có giá trị quyềnsử dụng đất đối  với diện tích đất bị vị phạm quy thành tiển từ 400.000.000 đồng đến dưới 000.000.000 đồng; phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối  với hành vi lấn chiếmđất ở, nhà ở do quân đội quản lý có giá trị quyềnsử dụng đất đối  với diện tích đất bị vi phạm quy thành tiền từ 1.000.000.000 đồng trở lên.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu và trả lại diện tích đất lấn chiếm đối  với hành vi lấn chiếm đất quốc phòng, đất ở do quân đội quản lý (Điều 29).   :

Thông tư số 95/2014/TT-BQP quy định: Giá trị quyềnsử dụng đất quy đối   thành tiền với diện tích đất bị lấn chiếm được tính bằng diện tích bị lấn chiếm nhân với giá đất do ủy  ban nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương nơi có đất đó quy định tại thời điểm lậpbiểnbản  về vi phạm hành chính. Diện tích đất bị lấn chiếm là diện tích đất được ghi trongbiểnbản  về vi phạm hành chính

2.7. Hành vi vi phạm  hành chính, hình thức xử phạt về sử dụng giấy phép lái xe quân sự,biển số mô tô,  số ô tô,biển số phương tiện vận tải quân sự (Mục 7)

Mục này quy định hành vi vi phạm về mua, bản , sử dụng giấy phép lái xe quân sự giả,  biển số mô tô,biển số ô tô, biển số phương tiện vận tải quân sự; vi phạm quy định về làm giả giấy phép lái xe quân sự và biển số mô tô,biển số ô tô, biển số phương tiện vận tải quân sự. Hình thức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm.

2.8. Hành vi vi phạm hành chỉnh, hình thức xử phạt về sử dụng , mua bản , sản xuất quân trang và biển công tác, cờ hiệu (Mục 8)

Mục này quy định hành vi vi phạm về sử dụng, quản lý, sản xuất quân trang; về sử dụng biển công tác, cờ hiệu, tín hiệu ưu tiên dành riêng cho quân đội khi làm nhiệm vụ; về sản xuất biển công tác, cờ hiệu dành riêng cho quân đội khi làm nhiệm vụ và hình thức xử phạt đối  với từng hành vi vi phạm.

Quân trang được quy định trong Nghị định này là trang phục sử dụng trong quân đội theo quy định của Chính phủ (Điều 9 Thông tư số 95/2014/TT-BQP).

Một số hành vi vi phạm và mức xử phạt vi phạm về sử dụng, mua bản , sản xuất quân trang:

  1. a) Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Đội mũ có gắn quân hiệu trái phép; mặc quân phục có gắn cấp hiệu hoặc phù hiệu, cành tùng, biển tên quân nhân, biểu tượng quân binh chủng trái phép.

Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật vi phạm hành chính đối với các hành vi nếu trên (Điều 32).

  1. b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng| với hành vi tàng trữ trái phép quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, cành tùng, biển tên quân nhân, biểu tượng quân binh chủng, mũ kếpi, mũ dã chiến, lễ phục, quân phục thưồng dùng, quân phục dã chiến, quân phục nghiệp vụ và các loại quân trang khác.

Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối  với hành vi đối  trái phép quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, cành tùng,biển tên quân nhân biểu tượng quân binh chủng, mũ kếpi, mũ dã chiến, lễ phục, quân phục thường dùng, quân phục dã chiến, quân phục nghiệp vụ và các loại quân trang khác.

Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng  đối  với hành vi buôn bản  trái phép quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, cành tùng, biển tên quân  nhân, biểu tượng quân binh chủng, mũ kêpi, mũ dã chiến, lễ phục, quân phục thường dùng, quân phục dã chiến, quân phục nghiệp vụ và các loại quân trang khác.

Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật vi  phạm hành chính đối  với các hành vi vi phạm này (Điều 33).

đ) Phạt tiền từ  30.000.000  đồng  đến  40.000.000  đồng  đối  với một trong các hành vi sau: sản xuất trái phép quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, cành tùng, biển tên quân nhân, biểu tượng quân binh chủng, mũ kêpi, mũ dã chiến, lễ phục, quân phục thường dùng, quân phục dã chiến, quân phục nghiệp vụ và các loại quân trang khác; làm giả quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, cành tùng,biển tên quân nhân, biểu tượng quân binh chủng, mũ kêpi, mũ dã chiến, lễ phục, quân phục thường dùng, quân phục dã chiến, quân phục nghiệp vụ và các loại quân trang khác.

  1. e) Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi sản xuất trái phép quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, cành tùng,biển tên quân nhân, biểu tượng quân binh chủng, mũ kêpi, mũ dã chiến, lễ phục, quân phục thường dùng, quân phục dã chiến, quân phục nghiệp vụ và các loại quân trang khác (Điều 34).

2.9. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng (Mục 9)

Mục này quy định thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch ủy  ban nhân dân các cấp; Thanh tra quốc phòng; Công an nhân dân; Quản lý thị trường; Bộ đội biên phòng; Cảnh sát biển. Đồng thời quy định về  thẩm quyền lập biên bản  vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng.

Theo đó, Thanh tra quốc phòng có thẩm quyền xử phạt tất cả các vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng; Bộ đội biênphòng, Cảnh sát biển có thẩm quyền xử phạt đối  với các hành vi vi phạm về bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự, lấn chiếm đất quốc phòng, đất ở, nhà ở do quân đội quản lý; về sử dụng giấy phép lái xe quân sự,biển số mô tô,biển số ô tô,biển số phương tiện vận tải quân sự.

Thông tư số 95/2014/TT-BQP quy định việc phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng trong một số trường hợp sau:

Thứ nhất, nếu vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quốc phòng thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người, thì việc xử phạt vi phạm hành chính do người phát hiện đầu tiên thực hiện.

Thứ hai, một người thực hiện nhiều hành vi vi  phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được xác định theo nguyên tắc sau đây:

Nếu hình thức, mức phạt, giá trị tang vật  phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối  với 1 từng hành vi đều thuộc thẩm quyền của người xử phạt vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó;

Nếu hình thức, mức phạt, giá trị tang vật phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối  với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt vi phạm hành chính thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt.

Nếu hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của nhiều người thuộc các ngành khác nhau, thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm.

  1. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cơ yếu (Chương 3)

3.1. Hành vi vi phạm  hành chính, hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả về lĩnh vực cơ yếu (Mục 1)

Mục này quy định các hành vi vi phạm quy (định về sử dụng sản phẩm mật mã không do Ban Cơ yếu Chính phủ cung cấp; về bảo vệ bí mật Nhà mựớc khi truyền thông tin mật bằng phương tiện thông tin, viễn thông hoặc lưu giữ thông tin mật bằng thiêt bị điện tử, tin học mà không mã hóa bằng mật mã của cơ yếu; về thời hạn không tham gia hoạt động mật mã và quy định về sản xuất, cung cấp sản phẩm mật mã để bảo vệ thông tin thuộc phạm vi bí mật Nhà nước .

Một số hành vi vi phạm cụ thể và mức xử phạt:

  1. a) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Không thực hiện mã hóa bằng mật mã của cơ yếu những thông tin bí mật Nhà nước khi truyền đi bằng các phương tiện thông tin, viễn thông; Không thực hiện mã hóa bằng mật mã của cơ yếu khi lưu giữ thông tin bí mật Nhà nước trong các phường tiện thiết bị điện tử, tin học và trên mạng viễn thông.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc áp dụng các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ của Ban Cơ yếu Chính phủ để bảo đảm an toàn, bí mật các thông tin bí mật Nhà nước khi truyền đi bằng các phương tiện thông tin, viễn thông hoặc lưu giữ trong các thiết bị điện tử, tin học (Điều 45).

  1. b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người làm công tác cơ yếu đã nghỉ hưu, chuyển ngành, chuyển công tác khác hoặc thôi việc mà tham gia hoạt động mật mã cho các tổ chức, cá nhân ngoài ngành Cơ yếu trước thời hạn 5 năm kể từ ngày có qủy ết định (Điều 46).

3.2. Thẩm quyền xử phạt vi phạm  hành chính trong lĩnh Vực cơ yếu (Mục2)

Mục này quy định về thẩm quyền xử phạt của Thanh tra chuyên ngành cơ yếu; thẩm quyền xử phạt của Trưởng ban Cơ yếu Chính phủ; thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực cơ yếu. Việc phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cơ yếu trong một số trường hợp được thực hiện như lĩnh vực quốc phòng đã nếu trên.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT XỬ LÍ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ CÁC QUY ĐỊNH VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH THUỘC LĨNH VỰC DO BỘ QUỐC PHÒNG QUẢN LÝ

Luật Xử lý vi phạm hành chính là đạo luật gốc trong hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, có phạm vi, đối  tượng điều chỉnh rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước  và mọi mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân. Triển khai thực hiện Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Chính phủ đã ban hành các nghị đinh quy định chi tiêt hướng lĩnh vực quản lý nhà nước. Cụ thể hóa các quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền quản lý, Bộ Quốc phòng đã ban hành các thông tư hướng dẫn thực hiện các nghị định của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính thuộc các lĩnh vực do Bộ Quốc phòng quản lý, như: Thông tư số 95/2014/TT-BQP ngày 07 tháng 7 năm 2014 hướng dẫn thi hành Nghị định  số 120/2013/NĐ-CP, Thông tư số 130/2014/TT-BQP ngày 24 tháng 9 năm 2014 hướng dẫn thi hành Nghị định số 162/2013/NĐ-CP. Các cơ quan, đơn vị  trong toàn quân, đặc bịệt các đơn vị Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Thanh tra quốc phòng đã tích cực quán triệt, học tập và triển khai thực hiện. Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản  có liên quan đến mọi quân nhân, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng trong đơn vị. Vì vậy số vụ vi phạm pháp luật nói chung, pháp luật hành chính nói riêng giảm dần; ý thức bảo vệ và  chấp hành pháp luật, các quy tắc xã hội của quân nhân, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng từng bước được nâng lên; vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ, chiến sĩ các cơ quan, đơn vị trong việc xử lý vi phạm hành chính được nâng cao. Lực lượng Bộ độibiênphòng trên các tuyến biên giới, hải đảo; lực lượng cảnh sát biển thực thi pháp luật trên biển đã bám sát địa bàn, kịp thời phát hiện, bắt giữ và xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, biển, đảo của Tổ quốc.

Trong thời gian tới để thực hiện tốt những quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và các quy định về xử phạt vi phạm hành chính thuộc các lĩnh vực do Bộ Quốc phòng quản lý cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

Đối  với cấp ủy, người chỉ huy , chính ủy, chính trị viên các cấp cần có kế hoạch tiếp tục quán triệt, phổ biến Luật Xử lý vi phạm hành chính, các quy định về xử phạt vi phạm hành chính thuộc các lĩnh vực do Bộ Quốc phòng quản lý đến toàn thể quân nhân, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng làm cho mọi người nắm chắc và thực hiện đúng quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nhằm loại trừ nguyên nhân, điều kiện gây ra vi phạm hành chính trong cơ quan, đơn vị mình. Quá trình tổ chức thực hiện cần chú trọng những nội dụng  liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của đơn vị và chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ; gắn kết quả thực hiện với việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nhằm đưa các quy định của pháp luật hành chính vào cuộc sống, nâng cao ý thức trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức thuộc quyền.

Quân nhân, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng phải tự giác học tập nắm vững và thực hiện đúng các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, nâng cao ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, quy tắc của cuộc sống xã hội. Tích cực vận động, hướng dẫn người thân và những người xung quanh hiểu và chấp hành quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

  1. Cán bộ, chiến sĩ có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải tuân thủ quy định của Luật xử vi phạm hành chính và quy định khác của pháp luật có liên quan trong quá trình thi hành công tránh sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản khác ca người vi phạm, dụng túng, bao che, không xử hoặc xử lý không kịp thời, không đúng tính chất mức độ vi phạm, không đúng thẩm quyền. Chủ động phối kết hợp với chính quyềnvà các cơ quan chức năng ở địa phương nơi đóng quân làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện đúng các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, nhất là các quy định về xử phạt hành chính thuộc các lĩnh vực do Bộ Quốc phòng quản lý.

 

KẾT LUẬN

Xử lý vi phạm hành chính là công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm duy trì trật tự, kỷ cương hành chính trong đời sống kinh tế – xã hội của đất nước. Ðây cũng là vấn đề trực tiếp liên quan đến cuộc sống hằng ngày của nhân dân, tổ chức, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, được Ðảng, Nhà nước và toàn xã hội hết sức quan tâm.

Tuy nhiên, qua hơn 20 năm thực hiện công tác về xử phạt vi phạm hành chính, hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính với văn bản pháp lý cao nhất ở tầm Pháp lệnh đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, đòi hỏi phải khẩn trương nghiên cứu, điều chỉnh, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của đời sống kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Với mục tiêu hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này, qua đó tăng cường hiệu lực và hiệu quả thực thi pháp luật, đồng thời thể chế hóa một trong những chủ trương xuyên suốt trong nhiều Nghị quyết của Ðảng về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật Xử lý vi phạm hành chính ngày 20-6-2012. Kể từ ngày 1-7-2013, Luật bắt đầu có hiệu lực thi hành, trừ các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định có hiệu lực kể từ ngày 1-1-2014. Với bố cục gồm sáu phần, 12 chương và 142 điều, quy định về xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính với nhiều nội dung mới, tiến bộ, Luật Xử lý vi phạm hành chính đánh dấu bước phát triển mới trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật xử lý vi phạm hành chính nói riêng ở Việt Nam, đồng thời khẳng định một bước phát triển mới về cơ chế pháp lý trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở nước ta, được nhân dân và cộng đồng quốc tế hoan nghênh, đánh giá cao.

Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, và cụ thể đối với Nhà máy của chúng ta cần nâng cao nhận thức, quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quy chế, quy định trong công tác hành chính quốc phòng, cũng như chấp hành các nội quy, quy định của cơ quan, đơn vị, pháp luật của Nhà nước. Đối với các đồng chí sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng phải tự giác học tập nắm vững và thực hiện đúng các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, nâng cao ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, quy tắc của cuộc sống xã hội. Tích cực vận động, hướng dẫn người thân và những người xung quanh hiểu và chấp hành quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính./.

 

[1] Lần sửa đổi năm 2007 chỉ bỏ biện pháp quản chế hành chính.

[2] Khoản 3 Điều 10 Pháp lệnh XLVPHC quy định: trong thời hạn được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà cá nhân, tổ chức lại thực hiện vi phạm hành chính mới trong cùng lĩnh vực trước đây đã vi phạm thì không áp dụng thời hiệu quy định tại khoản 1 và khoản 2; thời hiệu được tính lại kể từ thời điểm thực hiện vi phạm hành chính mới.

[3] Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2008 quy định nếu tính theo tháng hoặc năm thì khoảng thời gian đó được tính theo tháng, năm dương lịch, bao gồm cả ngày nghỉ theo quy định của Bộ luật Lao động; nếu tính theo ngày thì khoảng thời gian đó được tính theo ngày làm việc, không bao gồm ngày nghỉ theo quy định của Bộ luật Lao động.

[4] Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02/4/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ cho phép áp dụng thí điểm mức phạt tiền cao gấp 02 lần so với mức phạt chung đối với một số hành vi vi phạm trong khu vực nội thành của các đô thị loại đặc biệt.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*